Được đánh giá là ngành kinh tế quan trọng, nhưng sau 15 năm phát triển, ngành công nghiệp điện tử (CNĐT) Việt Nam chưa có sản phẩm điện tử “Made in Vietnam” nào “ra tấm ra món”. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do ngành CNĐT Việt Nam có hai hạn chế lớn: Hạ tầng phát triển mạnh nhưng chưa bền vững và phần mềm còn phụ thuộc nhiều vào nước ngoài.


Được đánh giá là ngành kinh tế quan trọng, nhưng sau 15 năm phát triển, ngành công nghiệp điện tử (CNĐT) Việt Nam chưa có sản phẩm điện tử “Made in Vietnam” nào “ra tấm ra món”. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do ngành CNĐT Việt Nam có hai hạn chế lớn: Hạ tầng phát triển mạnh nhưng chưa bền vững và phần mềm còn phụ thuộc nhiều vào nước ngoài.

CôngThương - “Vỡ mộng” dựa vào doanh nghiệp FDI

Toàn ngành CNĐT hiện có khoảng 300 DN, trong đó 1/3 là các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), chủ yếu tập trung tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận. Đã một thời gian dài, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam ưu tiên lựa chọn các DN có công nghệ, trình độ cao, trong đó có các DN sản xuất hàng điện tử. Sau nhiều năm phát triển, đóng góp trực tiếp của các DN này đối với sự phát triển của ngành CNĐT, công nghệ thông tin (CNTT) của Việt Nam không nhiều. Thậm chí, theo khẳng định của ông Trần Quang Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), không thể dựa vào các dự án FDI để phát triển CNĐT.

Tuy nhiên, thực tế, các DN FDI trong lĩnh vực điện tử, CNTT vào Việt Nam vì mục đích kinh doanh và có chiến lược phát triển riêng chứ không theo chiến lược phát triển CNĐT, CNTT của Việt Nam. Hơn nữa, do còn hạn chế nhiều mặt nên các DN trong lĩnh vực này của Việt Nam chưa thể trở thành các nhà cung cấp nguyên liệu phụ trợ cho các nhà máy sản xuất của các DN FDI. Ông Hùng cho biết, VEIA cũng đã rất cố gắng giúp một số DN trong nước tham gia cung cấp phụ tùng cho Canon - Tập đoàn điện tử lớn của Nhật Bản có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn tại Việt Nam - nhưng phần lớn trong số đó bị từ chối vì không đủ năng lực, chỉ có một số DN đáp ứng được. Còn đặt vấn đề với các doanh nghiệp FDI để họ giúp đỡ các DN trong nước về kỹ thuật thì phần lớn các DN FDI đều không mặn mà vì những lý do “tế nhị”.

Đầu tư chiều sâu - giải pháp nâng cao sức cạnh tranh

Cũng theo ông Trần Quang Hùng, CNĐT là ngành có tính chuyên môn hóa và toàn cầu hóa cao. Các dịch vụ sản xuất, linh kiện, phụ tùng, xây dựng và vận hành các dây chuyền lắp ráp, vận chuyển, phân phối sản phẩm như một chuỗi khép kín, mang tính toàn cầu. Do vậy, các DN điện tử Việt Nam muốn khẳng định vị thế của mình trong khu vực cần phải có sự chuyển mình thực sự. Trong khi thực tế, ngành CNĐT Việt Nam có hạ tầng phát triển chưa bền vững, thiếu hoàn chỉnh, ảnh hưởng tới quá trình phát triển ngành. Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia mặc dù rất đông nhưng số người giỏi rất ít, thiếu những chuyên gia đầu ngành về phân tích hệ thống, về lập trình... dẫn đến, sức cạnh tranh của CNĐT so với khu vực và trên thế giới chưa cao.

Để ngành CNĐT Việt Nam phát triển, các doanh nghiệp CNĐT Việt Nam cần tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu trên cơ sở xác định rõ nhưng công đoạn hoặc những sản phẩm có giá trị gia tăng cao; chủ động tìm kiếm đối tác trong khu vực, nhất là các nước có CNĐT phát triển để chào mời họ hợp tác sản xuất, đầu tư, chuyển giao công nghệ. Tập trung đầu tư theo chiều sâu thay vì dàn trải như hiện nay; chỉ nên chọn một chuyên ngành, tập trung vào một lĩnh vực sản xuất loại sản phẩm có thế mạnh, tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh cao để có thể tham gia vào hệ thống sản xuất khu vực; chú trọng phát triển sản xuất phụ tùng linh kiện và công nghiệp phụ trợ.



Theo BM

--------------------------------------------------------------------------------
Xem bài viết cùng chuyên mục: