• Webdien.com - Cầu nối dân điện


    1. [HOT] - Webdien đang tuyển các vị trí quản lý cao cấp


  • Trang 1 của 5 1234 ... CuốiCuối
    Kết quả 1 đến 10 của 47
    1. #1
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      276
      Cảm ơn
      131
      Được cảm ơn 129 lần, trong 78 bài

      Mặc định Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Ngày 28/07/2011 tôi đã đưa bài: Nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển lên diễn đàn. Cho đến nay đã có tới hơn 1.000 lượt người xem và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Từ những ý kiến đóng góp đó, tôi tiếp tục suy nghĩ thêm và đã bổ sung, sửa đổi lại bài viết này.
      Rất mong được mọi người quan tâm và tiếp tục cho những ý kiến đóng góp cụ thể. Xin chân thành cám ơn.

      Nên nghiên cứu xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng của sóng biển
      (Bản đã có bổ sung, sửa đổi ngày 18/09/2011)

      Trong thời gian vừa qua ngành điện ở nước ta phát triển rất nhanh, nhưng vẫn không đáp ứng đủ điện cho nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Ngành điện đã phải nhập khẩu thêm điện của Trung Quốc mà vẫn còn thiếu điện nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nguồn điện của ta rất đa dạng: nhiệt điện chạy than, nhiệt điện chạy khí, nhiệt điện chạy dầu, thủy điện, điện chạy bằng năng lượng gió, điện chạy bằng năng lượng mặt trời,... Trong thời gian sắp tới ta sẽ phải xây dựng nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân.
      Than đá của ta tuy khá nhiều, nhưng thời gian tới cũng không đủ, sẽ phải nhập khẩu với giá cao để chạy các nhà máy phát điện chạy bằng than ở phía nam. Khí đốt của ta cũng có hạn, chỉ có thể đáp ứng được một phần nhu cầu phát điện của đất nước. Phát điện chạy dầu rất đắt và ta cũng không đủ dầu, đang phải nhập khẩu thêm xăng dầu từ nước ngoài. Về thủy điện, ở những nơi có khả năng xây dựng nhà máy thủy điện lớn và vừa, ta đã và đang xây dựng gần hết rồi. Điện hạt nhân cũng chỉ có khoảng chục địa điểm có thể xây dựng được nhà máy. Động đất và sóng thần ở Nhật Bản cũng đã làm cho cả thế giới phải cảnh giác với điện hạt nhân.
      Điện chạy bằng năng lượng gió và điện chạy bằng năng lượng mặt trời ở nước ta mới chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ và giá thành còn cao hơn nhiều so với thủy điện và nhiệt điện chạy than, chạy khí.

      Trong Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21 tháng 7 năm 2011 về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ đã xác định:
      “+ Ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối,...), phát triển nhanh, từng bước gia tăng tỷ trọng của điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo:
      . Đưa tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020, khoảng 6.200 MW vào năm 2030; điện năng sản xuất từ nguồn điện gió chiếm tỷ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.
      . Phát triển điện sinh khối, đồng phát điện tại các nhà máy đường, đến năm 2020, nguồn điện này có tổng công suất khoảng 500 MW, nâng lên 2.000 MW vào năm 2030; tỷ trọng điện sản xuất tăng từ 0,6% năm 2020 lên 1,1% năm 2030.”

      Bài: “Phát triển điện gió: Đã mở hướng đi” của Hồng Quân đăng trên báo Lao động ngày 9/7/2011 cho biết: “Theo tính toán của Bộ Công Thương tại thời điểm năm 2009 khi làm tờ trình Chính phủ nghị định khuyến khích phát triển NLTT, bình quân giá điện gió tại VN vào khoảng 12,5UScent/kWh, nhưng giá điện bình quân tại thời điểm đó mới chỉ khoảng 5,3UScent/kWh. Nếu tính cả lần điều chỉnh giá điện gần đây nhất (1.3.2011) thì giá điện bình quân mới bằng 1.242đ/kWh (tương đương 5,9UScent).”
      Than đá, dầu mỏ, khí đốt,... ngày càng cạn kiệt dần nên việc nghiên cứu và xây dựng các nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng tái tạo ở nhiều nước trên thế giới ngày càng được đẩy mạnh. Việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện đã được nhiều nhà khoa học ở một số nước trên thế giới nghiên cứu từ lâu bằng những công nghệ rất hiện đại. Trong các bản tin thời sự ta thường được nghe các nước đang tích cực đẩy nhanh tỷ lệ phát điện bằng năng lượng tái tạo lên cao. Nhưng rất tiếc rằng năng lượng tái tạo ở đây mới chỉ thấy nói đến năng lượng mặt trời và năng lượng gió.
      Qua đó ta thấy tuy điện gió còn rất đắt so với điện chạy bằng các loại năng lượng đã có, nhưng nước ta và các nước trên thế giới vẫn tích cực phát triển. Vấn đề đặt ra là tại sao điện chạy bằng năng lượng sóng biển vẫn chưa được đưa vào? Phải chăng việc nghiên cứu sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện của các nhà khoa học thế giới còn nhiều vấn đề và giá thành phát điện còn rất cao so với các dạng năng lượng khác?
      Nước ta là nước có bờ biển rất dài, dài đến hơn 3.200 km. Quanh năm sóng biển vỗ bờ. Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, sóng biển thường rất mạnh trong nhiều ngày liên tiếp. Trong những ngày có gió mùa đông bắc, sóng biển ở các tỉnh ven biển miền Trung cũng lớn. Trong những ngày có gió tây nam, sóng biển trên vịnh Thái Lan ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau cũng lớn. Nước ta lại có nhiều hải đảo. Quanh đảo là biển. Vì vậy năng lượng của sóng biển ở ven bờ biển nước ta rất lớn. Có thể nói nguồn năng lượng đó là vô tận. Nhiều nước trên thế giới không có được thuận lợi như thế. Đó chính là thế mạnh của ta. Nếu ta nghiên cứu thành công việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện với giá thành phát điện tương đối rẻ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho đất nước và sẽ phát huy được thế mạnh ít nước có được. Vấn đề đặt ra là làm sao có thể khai thác được nguồn năng lượng vô tận đó để chạy máy phát điện?
      Năng lượng sóng biển tuy có rất nhiều tiềm năng nhưng việc nghiên cứu nó cũng gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Muốn nghiên cứu việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện, trước hết ta phải nghĩ đến những khó khăn, trở ngại là gì và có thể khắc phục được những khó khăn trở ngại đó hay không? Theo tôi có những khó khăn, trở ngại sau:

      1. Sóng biển chỉ lên xuống nhấp nhô nhưng máy phát điện lại cần chuyển động quay theo một chiều nhất định. Có rất nhiều cách để chuyển năng lượng sóng biển thành chuyển động quay theo một chiều nhất định và các kết quả thu được cũng rất khác nhau. Giá thành phát điện phụ thuộc phần lớn vào cách chuyển năng lượng này. Dùng những công nghệ rất hiện đại và phải đầu tư lớn, nhưng kết quả thu được lại không nhiều thì giá thành phát điện cao là điều rất dễ hiểu.

      2. Tính không ổn định của sóng biển và mực nước biển. Điện sản xuất ra cần đều đặn và ổn định, nhưng:
      - Sóng biển lúc cao, lúc thấp, lúc mạnh, lúc yếu.
      - Chu kỳ và khoảng cách giữa 2 làn sóng biển cũng khó xác định.
      - Mực nước biển lên cao, xuống thấp theo thủy triều.
      - Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, sóng biển thường liên tục mạnh trong nhiều ngày, lớn hơn những ngày bình thường rất nhiều.

      3. Nước biển có độ ăn mòn rất cao.

      4. Các thiên tai như động đất, sóng thần,...

      5. Có thể xây dựng được nhà máy phát điện với công suất lớn, ổn định và đều đặn hay không? Nếu chỉ phát điện được với công suất nhỏ thì rất khó hòa được vào lưới điện quốc gia.
      Rất may cho tôi là từ cuối năm 1956, khi đó tôi mới 16 tuổi, tôi đã quan sát và suy nghĩ rất nhiều về chiếc líp xe đạp. Đồng thời tôi lại nghĩ đến chuyện tàu thuyền đi lại trên biển phải dùng rất nhiều nhiên liệu, nhưng lại hay gặp phải những cơn sóng dữ rất nguy hiểm. Tại sao tàu thuyền không chạy bằng cách dùng 2 chiếc líp lớn đặt ngược chiều nhau và các bánh răng nhận lực, truyền lực để biến chuyển động quay đi, quay lại thành chuyển động quay theo một chiều nhất định? Sau đó tôi cũng quên luôn những ý nghĩ đó đi. Trong các năm vừa qua các phương tiện thông tin đại chúng thỉnh thoảng lại đưa tin nhiều tàu thuyền đánh cá bị chìm khi gặp bão, nhiều ngư dân bị chết giữa biển khơi. Những ý nghĩ từ hồi còn nhỏ hiện trở lại trong óc tôi. Vì thế tôi đã viết bài: “Nên nghĩ đến việc nghiên cứu chế tạo những tàu đánh cá chạy bằng năng lượng sóng biển và không sợ gì giông bão”. Bài này tôi đã đưa lên diễn đàn Tài nguyên nước Việt Nam tainguyennuoc.vn ngày 31/07/2011. Ngay khi mới viết xong bản thảo bài này tôi lại nghĩ đến chuyện dùng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện. Sau khi bổ sung, sửa đổi rất nhiều lần trong mấy tháng trời, ngày 28/07/2011 tôi đã đưa bài này lên diễn đàn webdien.com – Cầu nối dân điện. Cho đến nay đã có tới hơn 1.000 lượt người xem và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Từ những ý kiến đóng góp đó, tôi tiếp tục suy nghĩ thêm và bổ sung, sửa đổi lại bài viết này. Ý tưởng của tôi về loại thiết bị này như sau:

      (bài viết dưới gồm Hình và ý tưởng)
      File dow sơ đồ: http://www.data.webdien.com/free/dow...2d21e5919d2a46

      --------------------------------------------------------------------------------
      Xem bài viết cùng chuyên mục:


    2. The Following 2 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    3. #2
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      276
      Cảm ơn
      131
      Được cảm ơn 129 lần, trong 78 bài

      Mặc định Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      :





      Còn đây là file pdf của 2 ảnh trên : download
      1. Phần dưới là phần chuyển năng lượng sóng biển thành lực để sử dụng:
      Trong bài đã đưa lên diễn đàn ngày 28/07/2011 Nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển, phần này có 2 phao dài và lớn được đặt song song trên mặt biển và thẳng góc với hướng của sóng biển. 2 phao này được nối bằng một khung thép thẳng góc, đặt ở phía trên và ngay chính giữa phao. Đứng ở bờ biển nhìn ra, ta thường thấy sóng biển từ ngoài xa lao vào bờ, vì vậy ta sẽ thấy phần này giống như chữ H nằm ngang. Ở ngay chính giữa khung thép đó gắn 1 trục tròn làm bằng thép tốt lên trên, thẳng góc với khung thép và ở giữa khung thép đó có gắn nửa hình tròn thẳng đứng, trong đó ở phía trên có bánh răng lớn. Phần bánh răng lớn này thẳng góc với 2 phao dài và có tâm là trục thép tròn. Trục thép tròn đó được đỡ bằng 2 trụ thẳng đứng và được gắn vào trụ bê tông cắm sâu xuống đất ở đáy biển. Khi có sóng, 2 phao dài đó sẽ nhấp nhô lên cao, xuống thấp làm cho trục thép tròn và phần bánh răng lớn gắn vào khung thép cũng phải quay theo. Khi đó tôi mới chú ý đến việc trục thép tròn và các thiết bị đặt ở phía trên đều ở trên cao so với mặt nước biển. Khung thép và trục thép tròn luôn luôn cách mực nước biển một khoảng cách nhất định. Khi thủy triều lên hoặc xuống chúng cũng lên hoặc xuống theo. Khi được góp ý về nước biển có độ ăn mòn rất cao, tôi thấy ngay cả 2 thanh thép đường ray trong khe thẳng đứng cũng không nên để nước biển làm ướt. Vì vậy cần phải đưa trục thép tròn lên rất cao.
      Khi tắm biển lúc có sóng ta thường thấy những vật nổi trên mặt nước như rác, bọt biển,... thường chỉ nâng lên hạ xuống, ít di chuyển và không lao vào bờ như sóng biển. Nếu trục thép tròn để không quá cao so với mực nước biển, ta có thể hy vọng rằng lực tác động vào các phao và trụ bê tông chủ yếu là lực nâng lên, hạ xuống. Nếu để trục thép tròn lên rất cao thì khung thép cũng sẽ phải kéo dài thêm, nửa hình tròn thẳng đứng gắn trên khung thép cũng phải lớn hơn. Nếu khung thép ngắn thì khi 2 phao dài và lớn nâng lên, hạ xuống cũng đồng thời phải di chuyển một đoạn ngắn theo phương nằm ngang và lực tác động ngang vào trụ bê tông cũng lớn. Việc di chuyển đó không dễ dàng gì do lực cản của nước rất lớn.
      Vì vậy sau rất nhiều lần suy nghĩ, trong bài này tôi chỉ để 1 phao bê tông lớn hình hộp. Ngay chính giữa mặt trên của phao có 1 cột bê tông cốt thép dài. Trên đỉnh cột bê tông cốt thép đó có 2 đoạn thép ngắn nhô lên cao gắn 2 ổ bi để liên kết phao với khung thép. Chiều dài của cột bê tông cốt thép phải đảm bảo để khi thủy triều hạ xuống đến mức thấp nhất thì bánh xe thép ở phía trên của khung thép vẫn còn cách chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray trong khe thẳng đứng trong trụ bê tông một đoạn. Ta tạm gọi đoạn đó là đoạn dự phòng phía dưới.
      Khung thép hình tứ diện, 4 mặt đều là những tam giác cân. 2 tam giác cân lớn nằm ở phía trên, bằng nhau và có đỉnh quay xuống dưới. 2 tam giác cân nhỏ nằm ở phía dưới, bằng nhau và có đỉnh ở phía trên. Đáy của 2 tam giác cân lớn chung nhau, dài hơn chiều dài của phao, nằm ở vị trí cao nhất của khung thép và được nối dài sang 2 bên bằng 2 trục thép tròn ngắn. Ở đầu của mỗi trục thép tròn có gắn bánh xe thép nhỏ, phía ngoài của bánh xe lõm vào để ôm lấy 2 thanh thép đường ray trong khe thẳng đứng. Đáy của 2 tam giác cân nhỏ cũng là đáy chung, nằm ở vị trí thấp nhất. Nó nên là 1 đoạn thép tròn và liên kết với phao bằng 2 vòng bi ở đỉnh cột bê tông cốt thép của phao, đồng thời giúp phao có thể giao động. Như vậy khi sóng đánh thẳng, phao có thể tự do giao động nhờ 2 trục thép tròn ngắn gắn ở phía trên khung thép và 2 bánh xe thép. Khi sóng đánh nghiêng, phao có thể giao động sang hai bên chút ít nhờ đoạn thép tròn ở phía dưới khung thép và 2 vòng bi gắn vào đoạn thép đó. Do các khớp chuyển động đều ở rất cao so với mặt nước biển nên khi có sóng, phao chỉ nâng lên, hạ xuống theo phương thẳng đứng là chủ yếu. Việc giao động của phao chỉ rất nhỏ do lực cản của nước.
      2 trụ bê tông để đỡ phao phải rất vững chắc. Vì thế trụ bê tông cần xây như xây trụ cầu lớn và phía trên tách thành 2 trụ bê tông hình hộp và cách nhau một đoạn ngắn để dùng cho 2 phao cạnh nhau. Trên đỉnh của trụ bê tông hình hộp cần có mặt phẳng để có thể đặt được lên trên đó 2 thiết bị là phần chuyển lực và bộ phận nén khí. Ở phía ngoài và ngay giữa mỗi trụ bê tông hình hộp đó có rãnh thẳng đứng gắn 2 thanh thép đường ray tàu hỏa để các bánh xe thép gắn ở đầu của 2 trục thép tròn trên khung thép chạy lên, chạy xuống trên 2 thanh thép đường ray đó. Phần vòng tròn phía ngoài bánh xe thép cần lõm vào để bánh xe ôm lấy đường ray và không thể chạy lệch ra ngoài đường ray trong khe thẳng đứng. Trụ bê tông đó có thể cao hơn 10 m so với mực nước biển vì sau này mực nước biển sẽ dâng cao hơn hiện nay do biến đổi khí hậu. Chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray phải cao hơn ít nhất là 3 m so với sóng biển mạnh khi thủy triều lên cao nhất để ngay cả sau này khi mực nước biển sẽ dâng lên cao hơn 2 m so với hiện nay do biến đổi khí hậu, nước biển cũng không thể làm ướt phần dưới cùng của 2 thanh thép đường ray. Chiều dài của 2 thanh thép đường ray phải lớn hơn mức chênh lệch thủy triều khi lên cao nhất và xuống thấp nhất cộng với khoảng cách giữa 2 bánh xe thép lăn trên 2 thanh thép đường ray theo phương thẳng đứng, cộng thêm với đoạn dự phòng phía dưới và đoạn dự phòng phía trên. Đầu trên của 2 thanh thép đường ray, cần hàn thêm 1 đoạn thép ngắn cho chắc chắn để nối chúng lại với nhau nhằm giữ phao và khung thép để đề phòng khi có sóng thần rất lớn, mực nước biển đột xuất dâng lên quá cao.
      Muốn có lực đẩy lớn, phao cũng phải có phần chìm trong nước lớn, như vậy phao cũng phải nặng. Vì thế ta nên cho thêm vào phao loại vật liệu dễ kiếm nhất ở ngay tại nơi đó hoặc bơm thêm nước biển vào sao cho phần nổi và phần chìm của phao tương đương nhau. Phao có thể dài và rộng hàng chục mét, bề cao của phao có thể cao vài mét. Nên thể tích của phao có thể lên đến vài trăm m3. Lực nâng lên, hạ xuống của phao có thể rất lớn. Thí dụ như phao dài 20 m, rộng 10 m, cao 4 m chẳng hạn. Thể tích của phao sẽ là 20 m x 10 m x 4 m = 800 m3. Tỷ trọng của nước biển lớn hơn 1. Khi đổ thêm nước biển vào phao cho phao ngập sâu 2 m thì trọng lượng của phao và nước biển đổ vào sẽ lớn hơn 400 tấn. Khi phao bị dìm trong nước biển thì lực nâng lên cũng lớn hơn 400 tấn. Đó là những lực hạ xuống và nâng lên tối đa. Khi phao chỉ ngập sâu 0,5 m thì lực hạ xuống là hơn 300 tấn. Khi phao chỉ ngập sâu 1 m thì lực hạ xuống là hơn 200 tấn. Khi phao chỉ ngập sâu 1,5 m thì lực hạ xuống là hơn 100 tấn. Khi phao ngập sâu 2,5 m thì lực nâng lên là hơn 100 tấn. Khi phao ngập sâu 3 m thì lực nâng lên là hơn 200 tấn. Khi phao ngập sâu 3,5 m thì lực nâng lên là hơn 300 tấn,... Trong quá trình vận hành do bị lực cản khi chạy bộ phận nén khí và lực ma sát, lực nâng lên, hạ xuống của phao có thể lên đến vài trăm tấn. Thể tích của phao càng lớn thì lực nâng lên, hạ xuống của phao càng lớn. Nhưng khả năng chịu lực của thép trong các bộ phận truyền lực và chịu lực cũng chỉ đến mức độ nhất định. Vì vậy thể tích của phao cũng cần làm cho phù hợp với khả năng chịu lực của thép. Chiều cao của phao cũng nên tính toán sao cho có lợi nhất. Theo tôi nghĩ phao không cần làm cao lắm, chỉ cần làm để phao thường xuyên ngâm trong nước biển. Khi có sóng rất mạnh, phao có thể ngập toàn bộ trong nước biển khi phao ở đỉnh sóng hoặc toàn bộ phao có thể lên hẳn khỏi mặt nước khi phao ở đáy sóng. Làm như vậy có mấy cái lợi sau:
      - Chủ động xác định được lực nâng lên, hạ xuống tối đa của phao và loại bỏ được những lực quá lớn tác động vào các thiết bị gắn ở phía trên.
      - Đỡ tốn vật liệu để làm phao.
      - Khi có sóng thần rất lớn xảy ra, toàn bộ phao bị ngập sâu trong nước biển sẽ không bị lực nâng lên quá lớn đến mức không cần thiết của phao.
      Độ vững chắc của 2 trụ bê tông và của khung thép cũng cần được tính toán để đảm bảo an toàn, đề phòng trường hợp có sóng thần lớn, phao và khung thép nằm sâu trong nước biển, lực nâng lên của phao và của sóng thần rất lớn. Khi đó phao có thể bị đẩy lật lên phía trên làm hỏng hết các thiết bị đặt ở trên đó. Vì vậy chiều rộng của phao cần lớn hơn trụ bê tông và ở 2 bên phao cần có thêm vài đoạn bê tông thò ra để khi gặp trường hợp đó phao vướng vào các trụ bê tông, không thể lật lên trên được.
      Nước biển có độ ăn mòn rất cao, phần thường xuyên ngâm trong nước biển chỉ có phao, trụ bê tông và các đường ống dẫn khí nén. Nhưng dù sao ta cũng cần xem lại từng phần ngâm trong nước biển đó và làm rõ hơn từng vấn đề cụ thể này:
      - Phao: Nửa dưới của các phao thường xuyên ngâm trong nước biển. Nhưng toàn bộ phao đều bằng bê tông cả, nên không sợ gì bị nước biển ăn mòn. Nếu không muốn dùng phao bê tông, ta cũng có thể thay thế bằng phao thép. Việc nửa dưới của các phao thường xuyên ngâm trong nước biển cũng tương tự như phía dưới của các tàu biển. Nhưng nước được bơm thêm vào để phao nặng thêm phải là nước ngọt.
      - Trụ bê tông: Toàn bộ trụ bằng bê tông, chỉ có 2 thanh thép đường ray trong 2 khe thẳng đứng mà thôi. Nhưng chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray đã phải cao hơn ít nhất là 3 m so với sóng biển mạnh khi thủy triều lên cao nhất để ngay cả sau này khi mực nước biển sẽ dâng lên cao hơn 2 m so với hiện nay do biến đổi khí hậu, nước biển cũng không thể làm ướt phần dưới cùng của 2 thanh thép đường ray. Nên cũng không sợ gì bị nước biển ăn mòn.
      - Các đường ống dẫn khí nén: Hiện nay ở nước ta đã xây dựng nhiều đường ống dẫn khí dưới biển để đưa khí khai thác được từ các giàn khoan về nhà máy để phát điện. Nên cách sử lý cũng tương tự.
      Để có thể thu được nhiều năng lượng từ sóng biển, thiết bị này nên đặt ở vùng biển thường xuyên có sóng tương đối lớn. Các thiết bị đó nên được xây dựng ở vùng xa nhà dân và khi bánh xe thép dưới cùng xuống đến chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray thẳng đứng, phao vẫn chưa chạm xuống đất ở đáy biển. Cũng cần gắn còi báo động khi nước biển đột ngột rút hẳn ra xa làm cho bánh xe thép dưới cùng xuống đến chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray thẳng đứng. Trong trường hợp như thế, sau đó sóng thần rất dễ xảy ra.

      2. Phần trên là phần chuyển lực và bộ phận nén khí:
      Phần trên có 2 thanh thép ngang cách nhau một đoạn. Muốn chúng di chuyển tốt, ở đầu thanh thép phía trên cần lắp thêm một bánh xe thép có đường kính bằng đường kính của bánh xe thép đã nói ở trên và phía ngoài bánh xe cũng lõm vào để có thể lăn đi, lăn lại dễ dàng trên thanh thép đường ray tàu hỏa trong khe thẳng đứng và không thể lệch ra khỏi đường ray đó. Thanh thép ngang phía trên và bánh xe thép gắn ở 2 đầu phải rất chắc chắn. 2 bánh xe thép này phải khá dầy vì khi có sóng thần lớn xảy ra lực nâng lên rất lớn, nó sẽ đập trực tiếp vào đoạn thép nối 2 thanh thép đường ray và khối bê tông ở phía trên. Thanh thép ngang phía dưới chỉ để cho khung vững chắc mà thôi.
      Lực nâng lên, hạ xuống rất mạnh, có thể lên đến vài trăm tấn vì đó là lực nâng lên, hạ xuống của cả phao bê tông và khung thép. Để tận dụng được hết lực này cần có thêm 2 ổ bi gắn vào 2 trục thép tròn ở phần khung thép và gần ngay với 2 trụ bê tông. Mỗi bên cần gắn 2 thanh thép thẳng đứng vào hai bên của 2 thanh thép ngang và chúng cũng được gắn ngay vào ổ bi của trục thép tròn ở phần khung thép. Mỗi cặp 2 thanh thép thẳng đứng này được nối dài lên phía trên bằng 1 thanh thép tốt dài, rộng bản và khá dày. Ở một bên của thanh thép này cũng có răng như bánh răng để truyền lực. Do 2 thanh thép ngang ở phần trên và 2 trục thép tròn ở phần khung thép đều thường xuyên di chuyển lên xuống trong khe thẳng đứng nên 2 cặp thanh thép thẳng đứng ốp vào nó và thanh thép nối dài cũng thường xuyên nâng lên, hạ xuống theo phương thẳng đứng Lực nâng lên, hạ xuống rất mạnh nhưng chuyển động lại rất chậm, cần phải làm cho chuyển động nhanh hơn. Thanh thép nối dài lên phía trên của cặp 2 thanh thép thẳng đứng khá dài, rất dễ bị nghiêng ngả sang 2 bên, cần có chỗ dựa để nó luôn luôn thẳng đứng. Vì thế ta cần gắn ngay vào mặt trên của mỗi trụ bê tông hình hộp một trục thép tròn có 2 bánh răng ở 2 bên. Bánh răng phía ngoài trụ tiếp xúc với răng của thanh thép thường xuyên di chuyển lên xuống theo phương thẳng đứng vừa nói trên. Bánh răng này cần đủ lớn để dễ dàng nhận hết lực. Nó cần có 2 nẹp thép dày bao bọc 2 bên răng và cao hơn những răng này để thanh thép có răng chạy lên, chạy xuống theo phương thẳng đứng không thể lệch ra ngoài được. Bánh răng phía trong trụ cần lớn hơn bánh răng phía ngoài trụ gấp mấy lần để truyền lực có chuyển động nhanh hơn gấp mấy lần sang phần chuyển lực được gắn ngay ở mặt trên của trụ bê tông hình hộp. Mặt trên ở phía ngoài của mỗi trụ bê tông cũng cần gắn thêm 1 bánh xe thép có phía ngoài bánh xe lõm vào ôm lấy phía sau của thanh thép có răng để nó có thể chạy lên, chạy xuống dễ dàng nhưng không thể nghiêng ngả được và buộc nó lúc nào cũng phải tiếp xúc để truyền lực cho bánh răng phía ngoài trụ. Thanh thép có răng chạy lên, chạy xuống theo phương thẳng đứng làm cho 2 bánh răng ở hai bên trụ bê tông hình hộp và trục của nó cũng phải quay đi, quay lại theo.
      Phần chuyển lực là phần chuyển lực quay tròn nhưng lúc quay theo chiều này, lúc lại quay theo chiều khác, thành lực quay tròn theo một chiều nhất định. Phần này gồm 1 trục nhận lực và 2 trục khác có bánh răng. Bánh răng của trục nhận lực luôn luôn tiếp xúc với bánh răng lớn phía trong trụ bê tông hình hộp thường xuyên quay đi, quay lại. Bánh răng của trục nhận lực nhỏ hơn nhiều nên trục nhận lực sẽ thường xuyên quay đi, quay lại với tốc độ nhanh hơn nhiều.
      Trong trục nhận lực có gắn 2 chiếc líp giống như líp xe đạp, nhưng lớn hơn rất nhiều. 2 chiếc líp này được gắn ngược chiều nhau để cho khi trục nhận lực quay theo chiều kim đồng hồ thì líp thứ nhất bắt buộc phải quay theo, còn líp thứ hai không cần quay hoặc có thể quay theo chiều ngược lại. Ngược lại khi trục nhận lực quay ngược chiều kim đồng hồ thì líp thứ hai bắt buộc phải quay theo, còn líp thứ nhất không cần quay hoặc có thể quay theo chiều ngược lại.
      Trên 2 trục kia, mỗi trục gắn 2 bánh răng và cách nhau 1 đoạn ngắn để líp và các bánh răng truyền lực lẫn cho nhau. Các bánh răng gắn vào trục này và bánh răng của líp nên làm bằng nhau và trên mỗi bánh răng số lượng răng cũng bằng nhau. Các bánh răng đó cần làm dày để có thể chịu được lực truyền lớn. 3 trục quay chỉ cần ngắn và nằm trên 3 đỉnh của tam giác đều có cạnh gần bằng đường kính của bánh răng để các bánh răng có thể truyền lực cho nhau một cách dễ dàng. Ta tạm gọi 2 bánh răng gắn vào trục thứ nhất là A1 và B1, 2 bánh răng gắn vào trục thứ hai là A2 và B2. Khi trục nhận lực quay thì líp thứ nhất và bánh răng A1 của trục thứ nhất truyền lực cho nhau, bánh răng B1 của trục thứ nhất và bánh răng A2 của trục thứ hai truyền lực cho nhau, bánh răng B2 của trục thứ hai và líp thứ hai truyền lực cho nhau.
      Quan sát 2 bánh răng để cạnh nhau và truyền lực cho nhau ta thấy chúng luôn luôn quay ngược chiều nhau quanh trục của chúng. Cụ thể là nếu bánh răng thứ nhất quay theo chiều kim đồng hồ thì bánh răng thứ hai quay ngược chiều kim đồng hồ. Ngược lại nếu bánh răng thứ nhất quay ngược chiều kim đồng hồ thì bánh răng thứ hai quay theo chiều kim đồng hồ.
      Khi trục nhận lực quay 1 vòng theo chiều kim đồng hồ sẽ làm cho líp thứ nhất cũng phải quay 1 vòng theo chiều kim đồng hồ. Do bị líp thứ nhất quay theo chiều kim đồng hồ truyền lực vào bánh răng A1 nên cả trục thứ nhất và 2 bánh răng A1, B1 của trục này đều phải quay 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ. Do bị bánh răng B1 quay ngược chiều kim đồng hồ truyền lực vào bánh răng A2 nên cả trục thứ hai và 2 bánh răng A2, B2 của trục này đều phải quay 1 vòng theo chiều kim đồng hồ. Do bị bánh răng B2 quay theo chiều kim đồng hồ truyền lực nên líp thứ hai cũng sẽ phải quay ngược chiều kim đồng hồ đúng 1 vòng. Nếu so sánh với trục nhận lực thì do trục nhận lực đã quay đúng 1 vòng theo chiều kim đồng hồ và líp thứ hai lại quay ngược chiều kim đồng hồ đúng 1 vòng, nên líp thứ hai đã quay đúng 2 vòng so với trục nhận lực.
      Ngược lại khi trục nhận lực quay 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ sẽ làm cho líp thứ hai cũng phải quay 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ. Do bị líp thứ hai quay ngược chiều kim đồng hồ truyền lực vào bánh răng B2 nên cả trục thứ hai và 2 bánh răng A2, B2 của trục này đều phải quay 1 vòng theo chiều kim đồng hồ. Do bị bánh răng A2 quay theo chiều kim đồng hồ truyền lực vào bánh răng B1 nên cả trục thứ nhất và 2 bánh răng A1, B1 của trục này đều phải quay 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ. Do bị bánh răng A1 quay ngược chiều kim đồng hồ truyền lực nên líp thứ nhất cũng sẽ phải quay theo chiều kim đồng hồ đúng 1 vòng. Nếu so sánh với trục nhận lực thì do trục nhận lực đã quay đúng 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ và líp thứ nhất lại quay theo chiều kim đồng hồ đúng 1 vòng, nên líp thứ nhất đã quay đúng 2 vòng so với trục nhận lực.
      Như đã trình bày ở trên, ta thấy phần chuyển lực rất đơn giản, chỉ cần 3 trục quay. Trục nhận lực có gắn 2 chiếc líp lớn đặt ngược chiều nhau. Trên mỗi trục còn lại gắn 2 bánh răng để nhận lực và truyền lực. Dù trục nhận lực có quay đi, quay lại theo chiều nào, thì các trục còn lại cũng chỉ quay theo một chiều nhất định. Với cách chuyển lực rất đơn giản như vậy, lực ma sát là không đáng kể và hiệu suất gần như đạt 100%.
      Đối với những người chuyên làm nghề cơ khí có thể thấy ngay việc truyền lực này. Nhưng những người khác có thể khó hình dung. Vì thế tôi đã vẽ "Sơ đồ truyền lực trong phần chuyển lực” như sau. Trong sơ đồ này tôi đã bôi màu để người xem có thể dễ dàng xem hơn.

      :





      Còn đây là file pdf của 2 ảnh trên : download
      Khi có sóng, trục nhận lực lúc thì quay theo chiều kim đồng hồ, lúc thì quay ngược chiều kim đồng hồ. Nhưng trên 2 trục kia thì hoàn toàn khác hẳn, trục thứ nhất luôn luôn quay ngược chiều kim đồng hồ, còn trục thứ hai lại luôn luôn quay theo chiều kim đồng hồ. Từ một trong hai trục này ta có thể truyền lực sang một trục khác để có số vòng quay phù hợp với việc chạy bộ phận nén khí ở ngay cạnh đó và cũng được gắn vào mặt trên của trụ bê tông. Khí nén của bộ phận nén khí này sẽ được chuyển sang đường ống dẫn khí chung ở ngay gần đó để chuyển về lưu giữ ở kho chứa khí nén.
      Sóng biển lúc cao, lúc thấp, lúc mạnh, lúc yếu sẽ làm cho chuyển động quay theo một chiều nhất định lúc nhanh, lúc chậm, lúc mạnh, lúc yếu. Khi chạy bộ phận nén khí sẽ cho khí nén lúc nhiều, lúc ít. Khi sóng nhỏ, việc chạy bộ phận nén khí sẽ làm cản trở nhiều đến hoạt động của phao, làm cho khi ở vùng cao của sóng, phao bị ngập sâu hơn, lực nâng lên sẽ tăng lên; ngược lại khi ở vùng thấp của sóng, phao sẽ ngập ít hơn, lực hạ xuống sẽ tăng lên. Như vậy khi sóng nhỏ, vẫn có đủ lực để chạy bộ phận nén khí, nhưng nó sẽ chạy chậm hơn nhiều và sẽ cho khí nén ít hơn nhiều. Toàn bộ khí nén phát sinh sẽ theo các đường ống dẫn khí nén về các thùng chứa khí nén lớn để dùng dần.
      Việc cho phao và khung thép chạy lên, chạy xuống theo phương thẳng đứng và chuyển động này được biến thành chuyển động quay theo một chiều nhất định để chạy 2 máy nén khí ở 2 bên không hề phụ thuộc gì vào chu kỳ, khoảng cách giữa 2 làn sóng và mực nước biển lên cao, xuống thấp theo thủy triều. Không những thế việc mực nước biển lên cao, xuống thấp theo thủy triều cũng góp một phần nhỏ làm tăng thêm khối lượng khí nén.
      Giữa phao và trụ bê tông cần có một khoảng cách cho phao tự do giao động và nước biển giữa bên trong và bên ngoài có thể lưu thông dễ dàng. Giả thử tổng bề dài của 1 phao, 1 trụ bê tông và khoảng cách của nó là 30 mét chẳng hạn, các thiết bị như vậy được xây liền nhau thì chỉ cần 1 km ven biển, ta đã có thể xây dựng được tới 33 thiết bị loại này. Sóng biển từ ngoài biển xa lao vào bờ, khi đến vùng biển nông ở gần bờ lại gặp hàng phao và trụ bê tông chắn ngang, sóng biển sẽ lại càng lớn hơn. Như vậy các thiết bị lại nhận được nhiều lực của sóng hơn và sẽ cho lượng khí nén nhiều hơn.
      Nếu sau hàng thiết bị chắn ngang đó, sóng biển vẫn chưa giảm nhiều sẽ nảy sinh vấn đề là có nên làm thêm một hoặc vài hàng thiết bị nữa để tận dụng thêm năng lượng của sóng hay không?
      Nếu các thiết bị đó được xây dựng ở vùng ven biển có đồi núi kề bên thì phần ở trên bờ có thể xây dựng ở trên cao. Khi có sóng thần xảy ra, do sóng biển vướng đồi núi nên lực đẩy ngang của nước vào các thiết bị đó có thể không quá lớn. Lực mạnh nhất khi đó sẽ là lực đẩy lên vì nó gồm 2 loại lực: Lực nổi lên của 2 phao do bị chìm sâu trong nước biển và lực đẩy lên của sóng thần. Các lực đó cũng đã bị tiêu hao một phần để chạy các bộ phận nén khí. Toàn bộ các thiết bị được xây dựng ở phía dưới đều là thiết bị cơ khí nên khi bị ngâm sâu trong nước biển trong thời gian ngắn cũng không bị hư hỏng. Khi hết sóng thần chỉ cần tra dầu mỡ vào những nơi cần bôi trơn, các thiết bị đó sẽ hoạt động tốt. Phần trên bờ được đặt ở trên cao, sóng thần không vươn tới được sẽ rất an toàn. Nước biển bị bơm lên đến thùng khí vào sẽ tự động chảy ra. Khi hết sóng thần chỉ cần mở vòi nước ở đáy thùng khí vào thì nước biển sẽ chảy ra hết. Sau đó sẽ cho nước ngọt vào để tráng lại cho sạch hết nước mặn.

      3. Phần trên bờ là kho chứa khí nén và các tổ máy phát điện:
      Sóng biển có lúc to, có lúc nhỏ và gió cũng có lúc mạnh, có lúc yếu. Trong điện gió người ta đã có nhiều cách làm để cho dòng điện được đều đặn. Vì vậy tôi đã tra cứu mục Tuốc bin gió trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trong bài này, tôi thấy có nhiều cách, nhưng tôi chỉ lưu ý đến cách sau cùng. Nguyên văn đoạn đó như sau: “Ngoài ra còn có một cách lưu trữ năng lượng gió khác. Người ta dùng cánh quạt gió truyền động trực tiếp vào máy nén khí. Năng lượng gió sẽ được tích trữ trong hệ thống rất nhiều bình khí nén. Khí nén trong bình sau đó sẽ được lần lượt bung ra để xoay động cơ vận hành máy phát điện. Quá trình nạp khí và xả khí được luân phiên giữa các bình, bình này đang xả thì các bình khác đang được nạp bởi cánh quạt gió. Điện sẽ được ổn dịnh liên tục.”
      Tôi chưa rõ cách vận hành cụ thể của điện gió trong trường hợp này ra sao. Nhưng tôi thấy nó rất hợp với những ý tưởng của tôi, nên trong phần 2, trong mỗi thiết bị đã nêu trên, tôi đã để 2 bộ phận nén khí và các đường ống dẫn khí về kho chứa khí nén.
      Ý tưởng của tôi về kho chứa khí nén như sau: Trong kho nên có nhiều bình chứa khí nén lớn, có thùng khí vào, thùng khí ra và bể chứa nước ngọt. Trong mỗi bình chứa khí nén và thùng khí này đều nên có đồng hồ đo áp suất. Trong mỗi bình chứa khí nén nên có lối khí vào riêng và lối khí ra riêng. Toàn bộ các lối khí vào của các bình chứa khí nén đều nối với thùng khí vào, mỗi cái có một cửa vào riêng và toàn bộ khí nén từ những thiết bị như đã mô tả ở phần trên đều theo đường ống dẫn khí chung để về đây. Trong thùng này chỉ có 1 cửa mở để đưa khí nén vào bình. Khi bình này đầy, cửa đó sẽ đóng lại và cửa khác lại mở ra để cho khí nén vào bình khác. Khi tất cả các bình đã đầy, áp suất trong thùng tăng cao, van xả khí nén tự động nâng lên để xả bớt khí nén ra ngoài trời. Khi có bình chứa khí nén nào áp suất đã giảm, cửa vào của bình đó sẽ tự động mở để đưa tiếp khí nén vào bình. Nếu trong thùng khí vào, áp suất đã giảm, van xả khí sẽ tự động hạ xuống để đóng lại. Toàn bộ các lối khí ra, cũng được tập trung vào thùng khí ra, mỗi bình chứa khí nén có một cửa ra riêng, nhưng chỉ có 1 cửa mở để đưa khí nén vào chạy các tổ máy phát điện. Khi áp suất trong bình chứa khí nén đó giảm, một cửa khác được từ từ mở ra để khí nén đưa vào không làm tăng đột ngột áp suất của thùng khí ra và cửa cũ được đóng lại. Như vậy các tổ máy phát điện lúc nào cũng có khí nén ổn định để chạy. Khi khí nén vào rất nhiều có thể có trường hợp một bình chứa khí nén vừa mở cửa ra để cho khí nén chạy các tổ máy phát điện, vừa mở cửa vào để tiếp tục nhận khí nén mới và van xả khí ở thùng khí vào vẫn còn được nâng lên để xả bớt khí nén ra ngoài trời. Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, sóng biển thường liên tục mạnh trong nhiều ngày sẽ cho lượng khí nén rất lớn. Vì vậy trong kho cần có nhiều các bình chứa khí nén lớn để ít xảy ra trường hợp phải xả bớt khí nén ra ngoài trời và có dự trữ lớn để sử dụng trong những ngày sóng biển nhỏ. Như vậy khí nén sẽ được cung cấp đều đặn quanh năm cho các tổ máy phát điện. Dòng điện sẽ được sản xuất liên tục và đều đặn quanh năm. Dùng bình chứa khí nén càng lớn thì suất đầu tư cho chứa 1 m3 khí nén càng thấp hơn. Nên nghiên cứu để có thể tự động hóa được quá trình điều khiển này. Việc sửa chữa, bảo dưỡng các tổ máy phát điện nên được làm trong mùa sóng nhỏ.
      Khi sóng thần xảy ra hoặc vì một lý do nào đó mực nước biển đột ngột dâng cao làm ngập cả các bộ phận nén khí gắn ở trên đỉnh các trụ bê tông hình hộp thì các bộ phận nén khí sẽ không còn nén khí nữa mà chỉ nén nước biển lên mà thôi. Để đề phòng trường hợp đó, thùng khí vào cần được làm khá cao. Các cửa vào của các bình chứa khí nén cần được để ở nơi cao nhất. Đáy của thùng khí vào cần có một lỗ tròn thoát nước và có một phao khá lớn, phía dưới phao có nút tròn để bịt kín lỗ thoát nước. Do trọng lượng của phao, lỗ tròn bị bịt kín nên khí nén không thể thoát ra ngoài theo lỗ đó được. Khi nước biển bị bơm vào, phao sẽ nổi lên, lỗ thoát nước được mở ra, nước biển sẽ tự chảy ra ngoài. Khi gần hết nước biển, phao hạ xuống và lỗ thoát nước sẽ bị bịt kín lại. Tại nơi thấp nhất của đáy thùng khí vào cũng cần có thêm một vòi nước để thoát hết số nước biển còn lại. Bể chứa nước ngọt cần được đặt cao hơn thùng khí vào và có đoạn ống nối với thùng này. Trên đoạn ống đó có vòi nước để sau khi nước biển đã chảy hết ra ngoài sẽ cho nước ngọt vào để tráng lại thùng khí vào cho sạch hết nước mặn. Sau khi hết sóng thần lớn, phần nước biển bám vào phía trong của các bộ nhận nén khí và các đường ống dẫn khí nén sẽ khô đi và biến thành các hạt muối rất nhỏ. Các hạt muối rất nhỏ này sẽ bị thổi đến thùng khí vào và sẽ đọng lại ở đây. Vì vậy vài ngày sau, ta cũng cần dùng nước ngọt để tráng thêm lần nữa.
      Như đã trình bày ở trên, ta thấy việc dùng năng lượng của sóng biển để chạy máy phát điện không đòi hỏi gì đến kỹ thuật phức tạp và các xí nghiệp bình thường của ta cũng có thể tự làm một cách dễ dàng. Cụ thể là việc xây trụ bê tông, ở trên trụ có 2 trụ bê tông hình hộp có rãnh thẳng đứng, không khác gì việc xây một trụ cầu. Nếu đắp một đoạn đê tạm bao phía ngoài khu vực xây dựng và dùng bơm hút hết nước biển ra, thì việc xây dựng và lắp đặt những công trình ở trong đó sẽ rất dễ dàng. Sau khi xây dựng xong các trụ bê tông và các đường ống dẫn khí nén, ta dùng đất đắp cao phần giữa của các trụ bê tông và đúc các phao bê tông ngay trên đó. Sau khi đã xây dựng xong toàn bộ công trình, ta sẽ phá bỏ toàn bộ phần đất ở dưới các phao bê tông đi, các phao này sẽ nằm lơ lửng ở trên không. Sau đó ta sẽ lắp đặt các đường ống dẫn khí nén. Sau khi phá bỏ đê tạm cho nước biển tràn vào, các phao sẽ nổi lên, ta sẽ dùng bơm để bơm thêm nước biển vào cho đến khi nửa phao ngập trong nước biển. Sau đó sẽ nút kín lỗ hở đó lại. Việc làm các líp lớn cũng tương tự như làm các líp xe đạp thông thường. Các công việc khác như làm khung thép, làm các trục chuyển động, làm các bánh răng, lắp bánh xe thép, làm các đường ống chịu lực lớn, lắp những đoạn ống dẫn khí nén,... thì rất nhiều nơi ở nước ta có thể dễ dàng làm được. Mở mạng máy tính ra ta thấy trong nước ta cũng có một số nhà máy sản xuất máy nén khí và một số nhà máy sản xuất bình chứa khí nén lớn. Có nhiều loại máy nén khí, nhưng do lực tác động lúc mạnh, lúc yếu, lúc nhanh, lúc chậm nên ta cần chọn loại nào cho thích hợp nhất. Ở đây do đã có lực quay sẵn rồi, nên ta chỉ cần đến bộ phận nén khí trong máy nén khí mà thôi. Như vậy nếu việc này được triển khai sẽ tạo việc làm cho rất nhiều lao động và sẽ thúc đẩy nhiều ngành sản xuất trong nước phát triển theo.
      Lực quay đi, quay lại quanh trục thép tròn và lực nâng lên, hạ xuống của các phao trong mỗi thiết bị rất lớn, có thể lên tới vài trăm tấn. Khi chuyển thành chuyển động quay nhanh hơn cho phù hợp với việc chạy các bộ phận nén khí, lực sẽ giảm đi. Chẳng hạn như khi chuyển thành chuyển động quay nhanh hơn gần chục lần thì lực sẽ giảm đi gần chục lần. Trong quá trình chuyển lực và truyền lực sẽ bị các lực ma sát cản trở chuyển động và làm giảm lực đi. Trừ các lực ma sát đi thì lực sẽ giảm đi khoảng chục lần. Như vậy nếu dùng máy nén khí pít tông chẳng hạn thì khi chuyển thành chuyển động quay nhanh hơn gần chục lần sẽ cho tổng lực nén của các pít tông trong 2 bộ phận nén khí có thể lên tới vài chục tấn. Khoảng hơn 3 km ven biển ta đã có thể xây dựng được hàng trăm thiết bị đó, tổng các lực nén của các pít tông trong các bộ phận nén khí có thể lên tới vài nghìn tấn. Chúng sẽ tạo ra được lượng khí nén rất lớn để chạy các máy phát điện. Nếu ta làm 10 km ven biển hoặc dài hơn nữa thì lượng điện sản xuất ra lại càng lớn hơn. Việc vận hành các nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển cũng tương tự như việc vận hành các nhà máy thủy điện. Trong mùa sóng lớn cho chạy toàn bộ các tổ máy phát điện, phần khí nén không dùng hết sẽ được dự trữ trong các bình chứa khí nén lớn. Trong mùa sóng nhỏ chỉ cho chạy một số tổ máy phát điện bằng 2 nguồn khí nén: khí nén mới phát sinh và khí nén dự trữ. Việc bảo dưỡng, sửa chữa các tổ máy phát điện nên làm trong mùa sóng nhỏ. Bằng những công nghệ rất bình thường, nhiều nơi trong nước có thể làm được mà thu được những lực tác động rất lớn, tạo ra lượng khí nén rất lớn để chạy các máy phát điện, lượng điện sinh ra sẽ rất lớn, rất ổn định, đều đặn quanh năm và có thể dễ dàng hòa vào mạng lưới điện quốc gia. Năng lượng sóng biển là vô tận và không mất tiền mua nên giá thành phát điện có thể sẽ khá rẻ.
      Trong các công việc trên, công việc khó khăn phức tạp nhất là xây dựng những trụ bê tông và những phao bê tông trong vùng biển thường xuyên có sóng. Việc đắp đoạn đê tạm phía ngoài cũng rất khó khăn vì đất đắp sẽ bị sóng biển cuốn trôi đi. Các Công ty của Việt Nam sẽ có rất nhiều cách để giải quyết vấn đề này. Nhưng khi được yêu cầu, họ có thể nêu ra rất nhiều khó khăn để đòi hỏi giá rất cao. Vì vậy tôi xin phép mạnh dạn nêu suy nghĩ của tôi về cách đắp đoạn đê tạm này như sau:
      Nên làm mặt phẳng bằng thép lá hình chữ nhật dài 20 m, rộng 12 m chẳng hạn. Xung quanh được nẹp bằng những thanh thép cho chắc chắn. 2 thanh thép nẹp chiều dài cần kéo dài thêm một đoạn ngắn ở cùng một phía để tạo thành 2 chân chống. Ở 2 góc phía bên kia nên để hở một chút để cần cẩu có thể dễ dàng móc vào đó. Hàn thêm 2 thanh thép thẳng góc vào chính giữa của hình và chia nó thành 4 hình chữ nhật bằng nhau. Việc đó không những càng làm cho mặt phẳng đó chắc chắn hơn mà còn có chỗ lắp thêm một thanh thép dài khoảng 20 m để làm thêm 1 chân chống nữa và có chỗ để lắp giá đỡ cho chân chống đó. Giá đỡ nên là 2 cạnh bên của một tam giác cân có đường cao khoảng trên 11 m. Đỉnh của tam giác cân có một bu lông, đầu thon lại để cần cẩu dễ cho ốc vào. Ốc nên có 2 tai dài và đầu của mỗi tai có lỗ tròn lớn để cần cẩu có thể móc vào lỗ đó. Thanh thép dài làm chân nên là thép hình chữ U để dễ lắp vào thanh thép dọc ở giữa. Giữa thanh thép khoan 1 lỗ tròn để cần cẩu có thể dễ dàng đưa bu lông vào lỗ tròn này và cuối thanh thép cũng cần có 1 lỗ thủng để cần cẩu có thể móc vào đó dựng thanh thép lên. Như vậy khi để nằm thì mặt phẳng đó rất gọn vì chân chống dài nằm chưa đến đỉnh của giá đỡ, rất dễ xếp nhiều cái lên sà lan có bề rộng 15 m. Nhưng khi dựng chân chống lên, nó sẽ biến thành một giá thép có 3 chân để có thể đứng vững vàng dưới biển có sóng. Trọng lượng mỗi giá thép đó chỉ khoảng dưới 15 tấn, giá thành khoảng 300 triệu đồng. Xây dựng 4 km đê tạm, cần 334 giá thép hết khoảng 100,2 tỷ đồng. Để các giá thép có thể vững vàng trước sóng lớn, cần treo thêm vào mỗi giá thép vài vật nặng, trọng lượng mỗi vật khoảng vài tấn. Ngoài ra cần thêm những tấm thép lá dài khoảng 21 m trên đầu uốn cong để có thể treo vào chỗ tiếp giáp giữa 2 giá thép. Cả 2 khoản này mất thêm khoảng gần 20 tỷ đồng nữa. Tổng cộng khoảng 120 tỷ đồng. Để có thể thả các giá thép này xuống biển tương đối thẳng hàng, nên căng một hàng phao dài. Đáy biển ở phía dưới hàng phao dài đó nên tương đối bằng phẳng. Nếu có đá ngầm thì không thể xếp các giá thép đó sát nhau được, ta nên chuyển sang chỗ khác ở ngay gần đó. Dùng sà lan tự hành bề rộng khoảng 15 m, 2 đầu có 2 cần cẩu, chở các giá thép đặt nằm ngửa đến phía trong của hàng phao. Dùng cả 2 cần cẩu để dựng chân chống dài và vặn ốc lại. Rồi dùng chúng để thả giá thép ngay sát phía ngoài hàng phao. 2 chân chống ngắn sẽ tiếp đất ngay phía dưới hàng phao. Chân chống dài sẽ tiếp đất ở phía ngoài. Dùng sà lan tự hành có cần cẩu khác chở các vật nặng và các lá thép dài đến phía ngoài hàng phao. Dùng cần cẩu để treo vài vật nặng lên giá thép. Sau đó lại tiến hành đặt giá thép mới ngay sát cạnh giá thép cũ. Sau khi treo thêm vài vật nặng lên giá thép mới sẽ treo tiếp lá thép dài vào chỗ tiếp giáp. Sau khi đã đặt xong tất cả các giá thép, nếu thấy chỗ tiếp giáp nào chưa kín lắm, cần dùng vải bạt phủ kín chỗ tiếp giáp đó. Sau đó mới phun cát biển để phủ kín các mặt phẳng đó thì đê tạm sẽ rất chắc chắn. Mấy mặt phẳng thép ở 2 đầu không cần phủ kín vải bạt vào chỗ tiếp giáp và phun cát vì ta chỉ cần dùng chúng để chắn sóng phía ngoài biển mà thôi. Sóng biển đập vào phía sau của những mặt phẳng thép đó sẽ bật trở lại. Phía bên trong con đê tạm đó sẽ không còn sóng nữa, nên cách 2 đầu của đê tạm đó khoảng 200 m về phía trong chẳng hạn, ta có thể dùng đất hoặc cát để đắp đê tạm ở 2 bên. Sau đó mới dùng bơm để hút hết nước biển ra và tiến hành xây dựng. Trong khu vực đó ta có thể xây dựng được hàng trăm thiết bị như đã nói trên. Sau khi xây dựng xong các công trình bên trong đê tạm, ta có thể rút những giá thép, những tấm thép lá dài và những vật nặng ra để dùng vào việc xây dựng các công trình đê tạm khác. Với những mặt phẳng thép dài 20 m, ta có đê tạm cao khoảng 15 m. Nếu thấy đê đó chưa đủ độ cao để ngăn sóng biển, ta có thể làm những mặt phẳng thép dài hơn. Với những mặt phẳng thép dài 25 m, rộng 12 m chắc là vẫn có thể dễ dàng xếp được vào sà lan có kích thước 40 m x 15 m.
      Dùng năng lượng sóng biển để chạy các bộ phận nén khí không hề bị tốn một tí đất nào trên đất liền. Chỉ cần dùng một khu đất ở xa nhà dân để xây kho chứa khí nén và đặt các tổ máy phát điện. Trong suốt dọc bờ biển dài hơn 3.200 km ở nước ta, bất cứ chỗ nào ở ven biển và ven các đảo cũng đều có thể xây dựng được nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển. Nhưng nên xây dựng ở những nơi thường xuyên có sóng biển tương đối lớn. Vùng có nhiều đảo hoặc bán đảo che ở phía ngoài, sóng sẽ không lớn nên nếu xây dựng ở đây hiệu quả kinh tế sẽ kém. Tốt nhất nên tìm nơi có đồi núi ở ngay gần biển và không có đảo hoặc bán đảo che ở phía ngoài.
      Nếu được xây dựng ở vùng ven biển có đồi núi kề bên và phần trên bờ được đặt ở nơi cao hơn mực nước biển khoảng 40 m chẳng hạn thì dù sóng thần có cao như sóng thần ở Indonesia trước đây hoặc sóng thần ở Nhật Bản mới xảy ra ngày 11/3/2011, nhà máy điện cũng vẫn an toàn. Động đất hoặc mưa to cũng có khả năng gây ra sạt lở đất đá. Vì vậy phần trên bờ cũng cần tránh những nơi đất đá có khả năng rơi xuống và những nơi có khả năng bị xói lở ở phía dưới. Suốt dọc ven biển từ phía nam tỉnh Thanh Hóa đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có rất nhiều nơi có đồi núi ngay gần sát biển. Tỉnh Kiên Giang cũng có ở một vài nơi như vậy.
      Dùng năng lượng của sóng biển để chạy máy phát điện có lợi cho môi trường vì không cần dùng đến bất kỳ một loại nhiên liệu nào. Chỉ cần vài km ven bờ biển thường xuyên có sóng biển, ta cũng có thể xây dựng được hàng trăm thiết bị như đã nói trên. Những thiết bị đặt gần bờ biển này đã chuyển được một phần năng lượng của sóng biển thành khí nén. Vậy sóng biển ở phía trong có giảm bớt hay không và nó có làm giảm được tác động của sóng biển trong việc làm xói lở bờ biển ở phía trong hay không? Nếu sóng biển ở phía trong giảm nhiều, thì có thể dùng làm nơi tránh bão cho các tàu thuyền đánh cá và các tàu thuyền nhỏ khác hay không? Kính mong các chuyên gia về môi trường và các chuyên gia về biển giải đáp giúp.
      Trên đây là những ý tưởng của riêng cá nhân tôi, không biết có sai sót gì hay không? Rất mong được nhiều người quan tâm và cho những ý kiến đóng góp để có những ý tưởng hay hơn. Từ những ý tưởng đó còn phải qua quá trình nghiên cứu, tính toán cụ thể, làm thí điểm mới có thể rút ra kết luận chính xác được. Riêng bản thân tôi thấy cần phải trả lời cho được những câu hỏi sau:
      - Muốn lực nâng lên, hạ xuống của sóng biển mạnh, nên để khoảng cách giữa phao và trụ bê tông khoảng bao nhiêu là vừa? Nên xây dựng các thiết bị đó liền nhau thành một dãy dài hay thỉnh thoảng nên để cách quãng cho nước biển dễ dàng lưu thông? Nên xây dựng các thiết bị đó ở nơi đáy biển sâu mấy mét là tốt? Thiết bị như thế nên làm với kích cỡ như thế nào là hợp lý? Một thiết bị như thế có thể sản xuất được khoảng bao nhiêu m3 khí nén trong tháng sóng nhỏ, trong tháng sóng lớn, trong mùa mưa bão và trong cả năm.
      - 1 m3 khí nén đó sẽ cho ra được bao nhiêu kwh điện? Thí dụ cụ thể như: Công ty Cổ phần Nồi hơi Việt Nam sản xuất được loại bình khí nén có dung tích chứa đến 200m3, áp suất làm việc của bình khí nén lên đến 40kG/cm2. Vậy với loại bình khí nén lớn nhất và chịu được áp lực tốt nhất của Công ty này sản xuất, khi dùng để chạy máy phát điện sẽ được bao nhiêu kwh điện sau mỗi lần xả khí? Điều này rất quan trọng vì nó sẽ quyết định đến công suất của nhà máy điện, đến giá thành phát điện và việc phải dùng bao nhiêu bình chứa khí nén để có thể dùng dần khí nén trong mùa sóng nhỏ.
      - Nhà máy thủy điện đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, nhưng giá thành phát điện lại rẻ nhất trong các nhà máy điện ở nước ta vì nó không cần đến nhiên liệu để chạy máy phát điện. Dùng năng lượng của sóng biển để chạy máy phát điện sẽ phải dùng rất nhiều vật liệu để làm như làm đoạn đê tạm, xây trụ bê tông, làm phao bê tông, làm khung thép, làm các bộ phận để chuyển lực, truyền lực, chuyển khí nén, làm các bộ phận nén khí, làm các bình chứa khí nén lớn,... nhưng khi vận hành nó cũng không phải dùng đến bất kỳ loại nhiên liệu nào, vậy giá thành phát điện sẽ ra sao? Có rẻ hơn so với giá thành phát điện của các nhà máy phát điện phải dùng than mua của nước ngoài hay không?
      Kính mong các chuyên gia về biển, về cơ khí, nén khí và phát điện nghiên cứu và giải đáp giúp.
      Tôi thấy năng lượng của sóng biển là vô cùng lớn. Sử dụng được nguồn năng lượng đó với giá tương đối rẻ sẽ mang lại lợi ích rất to lớn cho dân, cho nước nên tôi mạnh dạn nêu ra những ý tưởng của tôi. Tôi là người đã ngoài 70 tuổi rồi, không có điều kiện để nghiên cứu nhiều và tôi cũng không có tham vọng làm đề tài khoa học về vấn đề này. Rất mong các nhà khoa học trẻ quan tâm đến nguồn năng lượng vô cùng to lớn đó tiếp tục nghiên cứu để có những ý tưởng hay hơn. Từ đó có thể triển khai những đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể làm cơ sở cho việc xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng sóng biển trên quy mô lớn và rất lớn.
      Bờ biển của nước ta rất dài, năng lượng sóng biển ở ven bờ biển nước ta rất lớn và nguồn năng lượng đó là vô tận. Một vài nước đã có những nghiên cứu về việc dùng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện. Không biết các nước đó họ định làm như thế nào, phần chất sám, phần công nghệ rất hiện đại chiếm khoảng bao nhiêu phần trăm trong giá thành? Mỗi cách làm sẽ cho ra một giá thành phát điện khác nhau. Vì vậy rất mong các chuyên gia về điện xem kỹ cách làm của họ để có thể rút ra cách làm cho phù hợp với điều kiện của nước ta. Ta tự làm được bằng những công nghệ rất bình thường, rất nhiều nơi trong nước có thể làm được, giá thành phát điện sẽ rẻ hơn rất nhiều. Bài: “Phát triển điện gió: Đã mở hướng đi” của Hồng Quân đăng trên báo Lao động ngày 9/7/2011 cho biết: “Ngoài ra, do việc phát triển năng lượng sạch, các nhà đầu tư sẽ còn bán được quyền phát thải khí CO2 với giá khoảng 15UScents/tấn (tương đương khoảng 0,906UScents/kWh)”. Năng lượng của sóng biển cũng là năng lượng sạch, được như vậy giá điện sẽ còn rẻ hơn nữa. Nếu giá thành phát điện bằng năng lượng của sóng biển chỉ tương đương hoặc rẻ hơn giá thành phát điện của những nhà máy điện phải chạy bằng than phải mua của nước ngoài, ta sẽ có thể tạo ra được lượng điện vô cùng to lớn cung cấp thoải mái điện cho nền kinh tế quốc dân. Việc xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng của sóng biển sẽ tạo việc làm cho rất nhiều lao động và sẽ thúc đẩy nhiều ngành sản xuất trong nước phát triển theo. Kính mong Đảng, Nhà nước, các tỉnh ven biển quan tâm và giao cho các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu để có những ý kiến cụ thể về vấn đề này. Xin chân thành cám ơn.


      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 18-09-2011 lúc 16:11.

    4. The Following 3 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    5. #3
      Tham gia
      06-09-2011
      Bài viết
      29
      Cảm ơn
      0
      Được cảm ơn 14 lần, trong 12 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      mấy cái này nghe có vẻ rất là ok :: nhưng thưa bạn đầu tư vào nó rất tốn kém . . . 1 tổ máy phát ra công suất ko được bao nhiu . . . thu hồi vốn là vấn đề thời gian dài . . .
      Học Điện không Nên Nghịch Điện

    6. Những thành viên đã cảm ơn daicauchi vì bài viết hữu ích:


    7. #4
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      276
      Cảm ơn
      131
      Được cảm ơn 129 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Cám ơn bạn daicauchi. Khoảng hơn 3 km ven biển ta đã có thể xây dựng được hàng trăm thiết bị đó, tổng các lực nén của các pít tông trong các bộ phận nén khí có thể lên tới vài nghìn tấn. Chúng sẽ tạo ra được lượng khí nén rất lớn để chạy các máy phát điện. Nếu ta làm 10 km ven biển hoặc dài hơn nữa thì lượng điện sản xuất ra lại càng lớn hơn. Tại sao ta không nghĩ đến việc xây dựng được những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng sóng biển có công suất lớn. Cũng như thủy điện thôi, đầu tư thì rất lớn, nhưng giá thành phát điện lại rẻ do không phải dùng bất cứ loại nhiên liệu nào. Cái chính là phải bàn cho thật kỹ để có phương án tốt nhất, sau đó phải tính toán thật cụ thể. Rất mong các bạn trẻ làm giúp việc này.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 20-09-2011 lúc 14:12.

    8. Những thành viên đã cảm ơn canlevinh vì bài viết hữu ích:


    9. #5
      Tham gia
      27-04-2011
      Bài viết
      166
      Cảm ơn
      35
      Được cảm ơn 113 lần, trong 47 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Gửi các anh, chị, em trên diễn đàn.
      Đây là sơ đồ của Bác Lê Vĩnh Cẩn, Bác Cẩn muốn dán sơ đồ này vào bài viết ở #1, Nhưng vì Tý Nỵ không thể dán trực tiếp vào bài viết của bác Lê Vĩnh Cẩn được, nên Tý Nỵ dán ở đây, để mọi người tiện theo dõi, và góp ý, phản biện... để bác Cẩn hoàn thiện bài viết.


      Xin trân trọng cảm ơn bác Lê Vĩnh Cẩn đã cho Tý Nỵ và những người trẻ như Tý Nỵ một bài học quý về niềm đam mê nghiên cứu khoa học. Chúc Bác mọi điều viên mãn.

      Tý Nỵ.





    10. Những thành viên đã cảm ơn Tý nỵ vì bài viết hữu ích:


    11. #6
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      Cung trăng
      Bài viết
      2,407
      Cảm ơn
      1,147
      Được cảm ơn 3,853 lần, trong 1,432 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Cái hình này có vẻ chưa phù hợp với lý luận của pác í trong bài 1???

    12. Những thành viên đã cảm ơn quocthai vì bài viết hữu ích:


    13. #7
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      276
      Cảm ơn
      131
      Được cảm ơn 129 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Cám ơn bạn Tý Nỵ đã đưa giúp "Sơ đồ truyền lực trong phần chuyển lực" của tôi lên Diễn đàn để mọi người xem. Sơ đồ của tôi vẽ không được khéo lắm, líp và các bánh răng đều không có răng. Bạn quocthai thông cảm giúp.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 20-09-2011 lúc 15:15.

    14. #8
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      Cung trăng
      Bài viết
      2,407
      Cảm ơn
      1,147
      Được cảm ơn 3,853 lần, trong 1,432 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Trích dẫn Gửi bởi canlevinh Xem bài viết
      Cám ơn bạn Tý Nỵ đã đưa giúp "Sơ đồ truyền lực trong phần chuyển lực" của tôi lên Diễn đàn để mọi người xem. Sơ đồ của tôi vẽ không được khéo lắm, líp và các bánh răng đều không có răng. Bạn quocthai thông cảm giúp.
      QT còn một số phản biện với pác, nhưng để QT tìm hiểu theo ý của pác vẽ lại sơ đồ cơ cho phù hợp, rồi mới tiếp tục phản biện được.

    15. Những thành viên đã cảm ơn quocthai vì bài viết hữu ích:


    16. #9
      Tham gia
      06-08-2011
      Địa chỉ
      Hà Nội
      Bài viết
      50
      Cảm ơn
      5
      Được cảm ơn 34 lần, trong 24 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      một bài viết quá tỷ mỉ và giường như chứa nhiều tâm huyết của tác giả. Mình thực sự thấy ngưỡng mộ tinh thần đó. Mình vốn là người làm nghề điện mình đnag bán máy phát điện công nghiệp và máy nén khí tại http://www.thibivi.com. Đọc xong bài viết này mình muốn bổ xung một yếu tố để tác giả tham khảo cũng như các bạn bàn luận

      theo như hệ thống tác gải mô tả thì phải cần đến môt hệ thống nén khí siêu lớn chưa từng có trên thế giới và hệ thống dg ống cũng như bồn chứa kèm theo. Hệ thống này có hai yếu tố công nghệ đó là
      - áp lực khí nén phải lớn tùy vào tuabin mà nó dao động >4kg/cm2
      - khối lượng khí nén siêu lớn

      để có dc hai yếu tố trên bộ phận nén cực kì tốn kém vì dc đặt trên mặt biển hệ thống ống dẫn và bình tích áp cũng cực kì lớn. với một máy nén khí công nghiệp phục vụ chạy dụng cụ bắn ốc vít trong nhà máy (không phải loại mini bơm xe máy) đã khá đắt.các bạn có thể xem mô hình hệ thống nén khí đáp ứng lưu lượng 55m3/phút và áp lực 7kg/cm2 để thấy độ phức tạp và hình dung chi phí để có thể nén dc 55m3 khí/phút k có máy giá dứơi 100tr nếu áp dụng cho hệ thống trên các phần đk đều dc loại bỏ giá thành sẽ giảm. mình lấy ví dụ 5tr/50m3/s lượng khí này tạo ra dc bao nhiêu điện khi qoay tuabin ?

    17. Những thành viên đã cảm ơn thibivi vì bài viết hữu ích:


    18. #10
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      276
      Cảm ơn
      131
      Được cảm ơn 129 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển - Nguồn điện vô cùng to lớn

      Rất cám ơn bạn quocthai. Rất mong sự giúp đỡ của bạn.
      Rất cám ơn bạn thibivi. Tôi không có kiến thức về máy nén khí, xin bạn thông cảm. Hệ thống này cần rất nhiều máy nén khí, nhưng theo tôi nghĩ thì các bộ phận nén khí có lẽ không đến mức siêu lớn đâu. Cụ thể là lực nâng lên, hạ xuống của mỗi phao có thể là vài trăm tấn hoặc thậm chí có thể hơn thế nữa tùy thuộc vào khả năng chịu đựng của thép. Mỗi phao ứng với 2 bộ phận nén khí. Nhưng chuyển động đó rất chậm và tốc độ lại lúc nhanh, lúc chậm, cần phải chuyển thành chuyển động nhanh hơn để chạy máy nén khí. Tất nhiên là nó sẽ đòi hỏi bộ phận nén khí thích hợp. Công ty Cổ phần Nồi hơi Việt Nam sản xuất được loại bình khí nén có dung tích chứa đến 200m3, áp suất làm việc của bình khí nén lên đến 40kG/cm2. Vì vậy bộ phận nén khí cũng cần phải nén được khí nén có áp suất lớn hơn. Có lẽ chỉ cần đến loại chạy piston thôi. Ta cần nén 50 kg/cm2 và diện tích piston là 2 dm2 chẳng hạn, thì lực nén phải lớn hơn: 50 kg/cm2 x 200 cm2 = 10.000 kg. Tức là lớn hơn 10 tấn rồi. Không biết máy nén khí bạn nói đến đó đòi hỏi tốc độ là bao nhiêu và tốc độ có cần phải đều hay không? Trong bài tôi đã cho chuyển động nhanh hơn gần chục lần, khi đó lực tác động vào piston nén khí đã giảm chục lần rồi. Không biết đã đảm bảo tốc độ để chạy máy nén khí đó chưa hay là cần phải chuyển thành chuyển động nhanh hơn rất nhiều? Khi đó lực tác động vào máy nén khí sẽ giảm đi rất nhiều.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 22-09-2011 lúc 19:32.

    19. Những thành viên đã cảm ơn canlevinh vì bài viết hữu ích:


    Trang 1 của 5 1234 ... CuốiCuối

    Trả lời với tài khoản Facebook

    Các Chủ đề tương tự

    1. Trả lời: 2
      Bài cuối: 01-10-2011, 10:50
    Văn Võ Trạng Nguyên
    Hắc Hiệp Đại Chiến Thánh Bài 2
    Đặc Cảnh Diệt Ma
    Khử Ma Đạo Trưởng
    Cương Thi Diệt Tà
    Sự Hình Thành Của Đế Chế Mông Cổ
    NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐÁNG NHỚ CỦA GIẢI GOLF PHÚ MỸ HƯNG 2016