• Webdien.com - Cầu nối dân điện


    1. [HOT] - Webdien đang tuyển các vị trí quản lý cao cấp

      ntech.com.vn

  • Kết quả 1 đến 6 của 6
    1. #1
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)

      Sau khi sửa bài: “Nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển”, ngày 18/09/2011 tôi đưa bài đã sửa với tiêu đề: “Điện sóng biển – Nguồn điện vô cùng to lớn” lên diễn đàn. Bài này cũng đã được rất nhiều người quan tâm, cho đến nay đã có tới hơn 1.400 lượt người xem và cũng đã đóng góp nhiều ý kiến rất quý báu. Tôi tiếp tục suy nghĩ thêm và bổ sung, sửa đổi lại bài viết này và để mọi người dễ theo dõi, tôi đưa lên Diễn với tiêu đề: “Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)”. Rất mong được mọi người quan tâm và tiếp tục cho những ý kiến đóng góp cụ thể. Xin chân thành cám ơn.

      Nên nghiên cứu xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng của sóng biển
      (Bản đã có bổ sung, sửa đổi ngày 07/11/2011)

      Trong thời gian vừa qua ngành điện ở nước ta phát triển rất nhanh, nhưng vẫn không đáp ứng đủ điện cho nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Ngành điện đã phải nhập khẩu thêm điện của Trung Quốc mà vẫn còn thiếu điện nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nguồn điện của ta rất đa dạng: nhiệt điện chạy than, nhiệt điện chạy khí, nhiệt điện chạy dầu, thủy điện, điện chạy bằng năng lượng gió, điện chạy bằng năng lượng mặt trời,... Trong thời gian sắp tới ta sẽ phải xây dựng nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân. Than đá của ta tuy khá nhiều, nhưng thời gian tới cũng không đủ, sẽ phải nhập khẩu với giá cao để chạy các nhà máy phát điện chạy bằng than ở phía nam. Khí đốt của ta cũng có hạn, chỉ có thể đáp ứng được một phần nhu cầu phát điện của đất nước. Phát điện chạy dầu rất đắt và ta cũng không đủ dầu, đang phải nhập khẩu thêm xăng dầu từ nước ngoài. Về thủy điện, ở những nơi có khả năng xây dựng nhà máy thủy điện lớn và vừa, ta đã và đang xây dựng gần hết rồi. Điện hạt nhân cũng chỉ có khoảng chục địa điểm có thể xây dựng được nhà máy. Động đất và sóng thần ở Nhật Bản cũng đã làm cho cả thế giới phải cảnh giác với điện hạt nhân.
      Điện chạy bằng năng lượng gió và điện chạy bằng năng lượng mặt trời ở nước ta mới chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ và giá thành còn cao hơn nhiều so với thủy điện và nhiệt điện chạy than, chạy khí.
      Trong Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21 tháng 7 năm 2011 về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ đã xác định:
      “+ Ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối,...), phát triển nhanh, từng bước gia tăng tỷ trọng của điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo:
      . Đưa tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020, khoảng 6.200 MW vào năm 2030; điện năng sản xuất từ nguồn điện gió chiếm tỷ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.
      . Phát triển điện sinh khối, đồng phát điện tại các nhà máy đường, đến năm 2020, nguồn điện này có tổng công suất khoảng 500 MW, nâng lên 2.000 MW vào năm 2030; tỷ trọng điện sản xuất tăng từ 0,6% năm 2020 lên 1,1% năm 2030.”
      Bài: “Phát triển điện gió: Đã mở hướng đi” của Hồng Quân đăng trên báo Lao động ngày 9/7/2011 cho biết: “Theo tính toán của Bộ Công Thương tại thời điểm năm 2009 khi làm tờ trình Chính phủ nghị định khuyến khích phát triển NLTT, bình quân giá điện gió tại VN vào khoảng 12,5UScent/kWh, nhưng giá điện bình quân tại thời điểm đó mới chỉ khoảng 5,3UScent/kWh. Nếu tính cả lần điều chỉnh giá điện gần đây nhất (1.3.2011) thì giá điện bình quân mới bằng 1.242đ/kWh (tương đương 5,9UScent).”
      Than đá, dầu mỏ, khí đốt,... ngày càng cạn kiệt dần nên việc nghiên cứu và xây dựng các nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng tái tạo ở nhiều nước trên thế giới ngày càng được đẩy mạnh. Việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện đã được nhiều nhà khoa học ở một số nước trên thế giới nghiên cứu từ lâu bằng những công nghệ rất hiện đại. Trong các bản tin thời sự ta thường được nghe các nước đang tích cực đẩy nhanh tỷ lệ phát điện bằng năng lượng tái tạo lên cao. Nhưng rất tiếc rằng năng lượng tái tạo ở đây mới chỉ thấy nói đến năng lượng mặt trời và năng lượng gió.
      Qua đó ta thấy tuy điện gió còn rất đắt so với điện chạy bằng các loại năng lượng đã có, nhưng nước ta và các nước trên thế giới vẫn tích cực phát triển. Vấn đề đặt ra là tại sao điện chạy bằng năng lượng sóng biển vẫn chưa được đưa vào? Phải chăng việc nghiên cứu sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện của các nhà khoa học thế giới còn nhiều vấn đề và giá thành phát điện còn rất cao so với các dạng năng lượng khác?
      Nước ta là nước có bờ biển rất dài, dài đến hơn 3.200 km. Quanh năm sóng biển vỗ bờ. Nước ta lại có nhiều hải đảo. Quanh đảo là biển. Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, sóng biển thường rất mạnh trong nhiều ngày liên tiếp. Trong những ngày có gió mùa đông bắc, sóng biển ở các tỉnh ven biển miền Trung cũng lớn. Trong những ngày có gió tây nam, sóng biển trên vịnh Thái Lan ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau cũng lớn. Vì vậy năng lượng của sóng biển ở ven bờ biển nước ta rất lớn. Có thể nói nguồn năng lượng đó là vô tận. Nhiều nước trên thế giới không có được thuận lợi như thế. Đó chính là thế mạnh của nước ta. Nếu ta nghiên cứu thành công việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện với giá thành phát điện tương đối rẻ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho đất nước và sẽ phát huy được thế mạnh ít nước có được. Vấn đề đặt ra là làm sao có thể khai thác được nguồn năng lượng vô tận đó để chạy máy phát điện?
      Năng lượng sóng biển tuy có rất nhiều tiềm năng nhưng việc nghiên cứu nó cũng gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Muốn nghiên cứu việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện, trước hết ta phải nghĩ đến những khó khăn, trở ngại là gì và có thể khắc phục được những khó khăn trở ngại đó hay không? Theo tôi có những khó khăn, trở ngại sau:
      1. Sóng biển chỉ lên xuống nhấp nhô nhưng máy phát điện lại cần chuyển động quay theo một chiều nhất định. Có rất nhiều cách để chuyển năng lượng sóng biển thành chuyển động quay theo một chiều nhất định và các kết quả thu được cũng rất khác nhau. Giá thành phát điện phụ thuộc phần lớn vào cách chuyển năng lượng này. Dùng những công nghệ rất hiện đại và phải đầu tư lớn, nhưng kết quả thu được lại không nhiều thì giá thành phát điện cao là điều rất dễ hiểu.
      2. Tính không ổn định của sóng biển và mực nước biển. Điện sản xuất ra cần đều đặn và ổn định, nhưng:
      - Sóng biển lúc cao, lúc thấp, lúc mạnh, lúc yếu.
      - Chu kỳ và khoảng cách giữa 2 làn sóng biển cũng khó xác định.
      - Mực nước biển lên cao, xuống thấp theo thủy triều.
      3. Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, sóng biển thường liên tục mạnh trong nhiều ngày, lớn hơn những ngày bình thường rất nhiều.
      4. Nước biển có độ ăn mòn rất cao.
      5. Các thiên tai như động đất, sóng thần,...
      6. Có thể xây dựng được nhà máy phát điện với công suất lớn, ổn định và đều đặn hay không? Nếu chỉ phát điện được với công suất nhỏ thì rất khó hòa được vào lưới điện quốc gia.
      Rất may cho tôi là từ cuối năm 1956, khi đó tôi mới 16 tuổi, tôi đã quan sát và suy nghĩ rất nhiều về chiếc líp xe đạp. Đồng thời tôi lại nghĩ đến chuyện tàu thuyền đi lại trên biển phải dùng rất nhiều nhiên liệu, nhưng lại hay gặp phải những cơn sóng dữ rất nguy hiểm. Tại sao tàu thuyền không chạy bằng cách dùng 2 chiếc líp lớn đặt ngược chiều nhau và các bánh răng nhận lực, truyền lực để biến chuyển động quay đi, quay lại thành chuyển động quay theo một chiều nhất định? Sau đó tôi cũng quên luôn những ý nghĩ đó đi. Trong các năm vừa qua các phương tiện thông tin đại chúng thỉnh thoảng lại đưa tin nhiều tàu thuyền đánh cá bị chìm khi gặp bão hoặc áp thấp nhiệt đới, nhiều ngư dân bị chết giữa biển khơi. Những ý nghĩ từ hồi còn nhỏ hiện trở lại trong óc tôi. Vì thế tôi đã viết bài: “Nên nghĩ đến việc nghiên cứu chế tạo những tàu đánh cá chạy bằng năng lượng sóng biển và không sợ gì giông bão”. Bài này tôi đã đưa lên diễn đàn Tài nguyên nước Việt Nam tainguyennuoc.vn ngày 31/07/2011. Ngay khi mới viết xong bản thảo bài này tôi lại nghĩ đến chuyện dùng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện. Sau khi bổ sung, sửa đổi rất nhiều lần trong mấy tháng trời, ngày 28/07/2011 tôi đã đưa bài này lên diễn đàn webdien.com – Cầu nối dân điện với tiêu đề là: “Nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển”. Hơn tháng rưỡi sau, đã có tới hơn 1.000 lượt người xem và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Từ những ý kiến đóng góp đó, tôi tiếp tục suy nghĩ thêm và bổ sung, sửa đổi lại bài viết này và ngày 18/09/2011 đã đưa lên diễn đàn với tiêu đề là: “Điện sóng biển – Nguồn điện vô cùng to lớn”. Bài này cũng được rất nhiều người quan tâm, cho đến nay đã có tới hơn 1.400 lượt người xem và cũng đã đóng góp nhiều ý kiến rất quý báu. Tôi tiếp tục suy nghĩ thêm và bổ sung, sửa đổi lại bài viết này và để mọi người dễ theo dõi, tôi đưa lên Diễn với tiêu đề: “Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)”. Ý tưởng của tôi về loại thiết bị này như sau:
      1. Phần dưới là phần chuyển năng lượng sóng biển thành lực để sử dụng:
      Trong bài này tôi chỉ để 1 phao bê tông lớn hình hộp và chỉ sử dụng lực nâng lên, hạ xuống của phao và khung thép. Ngay chính giữa mặt trên của phao có 1 cột bê tông cốt thép dài. Trên đỉnh cột bê tông cốt thép đó có 2 đoạn thép ngắn nhô lên cao gắn 2 ổ bi để liên kết phao với khung thép. Chiều dài của cột bê tông cốt thép phải đảm bảo để khi thủy triều hạ xuống đến mức thấp nhất thì bánh xe thép ở phía trên của khung thép vẫn còn cách chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray trong khe thẳng đứng trong trụ bê tông một đoạn. Ta tạm gọi đoạn đó là đoạn dự phòng phía dưới.
      Khung thép hình tứ diện, 4 mặt đều là những tam giác cân. 2 tam giác cân lớn nằm ở phía trên, bằng nhau và có đỉnh quay xuống dưới. 2 tam giác cân nhỏ nằm ở phía dưới, bằng nhau và có đỉnh ở phía trên. Đáy của 2 tam giác cân lớn chung nhau, dài hơn chiều dài của phao, nằm ở vị trí cao nhất của khung thép và được nối dài sang 2 bên bằng 2 trục thép tròn ngắn. Ở đầu của mỗi trục thép tròn có gắn bánh xe thép nhỏ, phía ngoài của bánh xe lõm vào để ôm lấy 2 thanh thép đường ray trong khe thẳng đứng. Đáy của 2 tam giác cân nhỏ cũng là đáy chung, nằm ở vị trí thấp nhất. Nó nên là 1 đoạn thép tròn và liên kết với phao bằng 2 vòng bi ở đỉnh cột bê tông cốt thép của phao, đồng thời giúp phao có thể giao động dễ dàng. Như vậy khi sóng đánh thẳng, phao có thể tự do giao động nhờ 2 trục thép tròn ngắn gắn ở phía trên khung thép và 2 bánh xe thép. Khi sóng đánh nghiêng, phao có thể giao động sang hai bên chút ít nhờ đoạn thép tròn ở phía dưới khung thép và 2 vòng bi gắn vào đoạn thép đó. Do các khớp chuyển động đều ở rất cao so với mặt nước biển nên khi có sóng, phao chỉ nâng lên, hạ xuống theo phương thẳng đứng là chủ yếu. Việc giao động của phao chỉ rất nhỏ do lực cản của nước.
      2 trụ bê tông để đỡ phao phải rất vững chắc. Vì thế trụ bê tông cần xây như xây trụ cầu lớn và phía trên tách thành 2 trụ bê tông hình hộp và cách nhau một đoạn ngắn để dùng cho 2 phao cạnh nhau. Trên đỉnh của trụ bê tông hình hộp cần có mặt phẳng để có thể đặt được lên trên đó 2 thiết bị là phần chuyển lực và bộ phận nén khí. Ở phía ngoài và ngay giữa mỗi trụ bê tông hình hộp đó có rãnh thẳng đứng gắn 2 thanh thép đường ray tàu hỏa để các bánh xe thép gắn ở đầu của 2 trục thép tròn trên khung thép chạy lên, chạy xuống trên 2 thanh thép đường ray đó. Phần vòng tròn phía ngoài bánh xe thép cần lõm vào để bánh xe ôm lấy đường ray và không thể chạy lệch ra ngoài đường ray trong khe thẳng đứng. Trụ bê tông đó có thể cao hơn 10 m so với mực nước biển vì sau này mực nước biển sẽ dâng cao hơn hiện nay do biến đổi khí hậu. Chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray phải cao hơn ít nhất là 3 m so với sóng biển mạnh khi thủy triều lên cao nhất để ngay cả sau này khi mực nước biển sẽ dâng lên cao hơn 2 m so với hiện nay do biến đổi khí hậu, nước biển cũng không thể làm ướt phần dưới cùng của 2 thanh thép đường ray. Chiều dài của 2 thanh thép đường ray phải lớn hơn mức chênh lệch thủy triều khi lên cao nhất và xuống thấp nhất cộng với khoảng cách giữa 2 bánh xe thép lăn trên 2 thanh thép đường ray theo phương thẳng đứng, cộng thêm với đoạn dự phòng phía dưới và đoạn dự phòng phía trên. Đầu trên của 2 thanh thép đường ray, cần hàn thêm 1 đoạn thép ngắn cho chắc chắn để nối chúng lại với nhau nhằm giữ phao và khung thép để đề phòng khi có sóng thần rất lớn, mực nước biển đột xuất dâng lên quá cao.
      Muốn có lực đẩy lớn, phao cũng phải có phần chìm trong nước lớn, như vậy phao cũng phải nặng. Vì thế ta nên cho thêm vào phao loại vật liệu dễ kiếm nhất ở ngay tại nơi đó hoặc bơm thêm nước biển vào sao cho phần nổi và phần chìm của phao tương đương nhau. Phao có thể dài và rộng hàng chục mét, bề cao của phao có thể cao vài mét. Nên thể tích của phao có thể lên đến vài trăm m3. Lực nâng lên, hạ xuống của phao có thể rất lớn. Thí dụ như phao dài 20 m, rộng 5 m, cao 4 m chẳng hạn. Thể tích của phao sẽ là 20 m x 5 m x 4 m = 400 m3. Tỷ trọng của nước biển lớn hơn 1. Khi đổ thêm nước biển vào phao cho phao ngập sâu 2 m thì trọng lượng của phao và nước biển đổ vào sẽ lớn hơn 200 tấn. Khi phao bị dìm trong nước biển thì lực nâng lên cũng lớn hơn 200 tấn. Đó là những lực hạ xuống và nâng lên tối đa. Khi phao chỉ ngập sâu 0,5 m thì lực hạ xuống là hơn 150 tấn. Khi phao chỉ ngập sâu 1 m thì lực hạ xuống là hơn 100 tấn. Khi phao chỉ ngập sâu 1,5 m thì lực hạ xuống là hơn 50 tấn. Khi phao ngập sâu 2,5 m thì lực nâng lên là hơn 50 tấn. Khi phao ngập sâu 3 m thì lực nâng lên là hơn 100 tấn. Khi phao ngập sâu 3,5 m thì lực nâng lên là hơn 150 tấn,... Trong quá trình vận hành do bị lực cản khi chạy bộ phận nén khí và lực ma sát, lực nâng lên, hạ xuống của phao có thể lên đến hàng trăm tấn. Thể tích của phao càng lớn thì lực nâng lên, hạ xuống của phao càng lớn. Nhưng khả năng chịu lực của thép trong các bộ phận truyền lực và chịu lực cũng chỉ đến mức độ nhất định. Không những thế, nếu phao làm quá rộng sẽ xảy ra tình trạng chỗ ngập nông, chỗ ngập sâu do đó khoảng nâng lên, hạ xuống sẽ bị giảm đi. Chiều cao của phao cũng nên tính toán sao cho có lợi nhất. Theo tôi nghĩ sóng biển từ ngoài biển xa lao vào bờ, hướng của sóng chủ yếu là thẳng góc với phao. Vì thế phao có thể dài một chút, nhưng không cần quá rộng, quá cao, chỉ cần làm để khi chạy bộ phận nén khí trong điều kiện sóng bình thường, phao thường xuyên nâng lên, hạ xuống trong nước biển nhưng phao không bị ngập toàn bộ hoặc nhô hẳn lên khỏi mặt nước biển. Khi có sóng rất mạnh, phao có thể ngập toàn bộ trong nước biển khi phao ở đỉnh sóng hoặc toàn bộ phao có thể lên hẳn khỏi mặt nước khi phao ở đáy sóng. Làm như vậy có mấy cái lợi sau:
      - Chủ động xác định được lực nâng lên, hạ xuống tối đa của phao và loại bỏ được những lực quá lớn tác động vào các thiết bị gắn ở phía trên. Chẳng hạn như trong thí dụ vừa nêu ta có thể xác định được lực nâng lên, hạ xuống tối đa của phao là hơn 200 tấn.
      - Đỡ tốn vật liệu để làm phao và khung thép.
      - Khi có sóng thần rất lớn xảy ra, toàn bộ phao bị ngập sâu trong nước biển sẽ không bị lực nâng lên quá lớn đến mức không cần thiết của phao.
      Do bài đã quá dài tôi phải để một đoạn ở bài dưới của bài này.
      Về chiều rộng của phao xin làm ơn xem bài: "Chiều rộng của phao trong điện sóng biển nên là bao nhiêu?". Bài này tôi mới bổ sung thêm và đã đưa lên Diễn đàn ngày 14/11/2011.
      Trên thực tế, khi ở đỉnh sóng, phao ngập sâu hơn và khi ở đáy sóng, phao ngập nông hơn để tạo lực lớn cho việc chạy bộ phận nén khí và thắng các lực ma sát trong quá trình truyền lực. Như vậy khoảng nâng lên, hạ xuống cũng sẽ giảm đi.
      Độ vững chắc của 2 trụ bê tông và của khung thép cũng cần được tính toán để đảm bảo an toàn, đề phòng trường hợp có sóng thần lớn, phao và khung thép nằm sâu trong nước biển, lực nâng lên của phao và của sóng thần rất lớn. Khi đó phao có thể bị đẩy lật lên phía trên làm hỏng hết các thiết bị đặt ở trên đó. Vì vậy chiều rộng của phao cần lớn hơn trụ bê tông và ở 2 bên phao cần có thêm vài đoạn bê tông thò ra để khi gặp trường hợp đó phao vướng vào các trụ bê tông, không thể lật lên trên được.
      Nước biển có độ ăn mòn rất cao, phần thường xuyên ngâm trong nước biển chỉ có phao, trụ bê tông và các đường ống dẫn khí nén. Nhưng dù sao ta cũng cần xem lại từng phần ngâm trong nước biển đó và làm rõ hơn từng vấn đề cụ thể này:
      - Phao: Nửa dưới của các phao thường xuyên ngâm trong nước biển. Nhưng toàn bộ phao đều bằng bê tông cả, nên không sợ gì bị nước biển ăn mòn. Nếu không muốn dùng phao bê tông, ta cũng có thể thay thế bằng phao thép. Việc nửa dưới của các phao thường xuyên ngâm trong nước biển cũng tương tự như phía dưới của các tàu biển. Nhưng nước được bơm thêm vào để phao nặng thêm phải là nước ngọt. Trong trường hợp dùng khớp nối ngay trên mặt phao, chỉ có khớp nối và phần dưới của cột thép bị nước biển làm ướt. Ta cũng cần thường xuyên kiểm tra để thay thế kịp thời những chỗ cần thiết.
      - Trụ bê tông: Toàn bộ trụ bằng bê tông, chỉ có 2 thanh thép đường ray trong 2 khe thẳng đứng mà thôi. Nhưng chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray đã phải cao hơn ít nhất là 3 m so với sóng biển mạnh khi thủy triều lên cao nhất để ngay cả sau này khi mực nước biển sẽ dâng lên cao hơn 2 m so với hiện nay do biến đổi khí hậu, nước biển cũng không thể làm ướt phần dưới cùng của 2 thanh thép đường ray. Nên cũng không sợ gì bị nước biển ăn mòn.
      - Các đường ống dẫn khí nén: Hiện nay ở nước ta đã xây dựng nhiều đường ống dẫn khí dưới biển để đưa khí khai thác được từ các giàn khoan về nhà máy để phát điện. Nên cách sử lý cũng tương tự.
      Để có thể thu được nhiều năng lượng từ sóng biển, thiết bị này nên đặt ở vùng biển thường xuyên có sóng tương đối lớn. Các thiết bị đó nên được xây dựng ở vùng xa nhà dân và khi bánh xe thép dưới cùng xuống đến chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray thẳng đứng, phao vẫn chưa chạm xuống đất ở đáy biển. Cũng cần gắn còi báo động khi nước biển đột ngột rút hẳn ra xa làm cho bánh xe thép dưới cùng xuống đến chỗ thấp nhất của 2 thanh thép đường ray thẳng đứng. Trong trường hợp như thế, sau đó sóng thần rất dễ xảy ra.
      2. Phần trên là phần chuyển lực và bộ phận nén khí:
      Phần trên có 2 thanh thép ngang cách nhau một đoạn. Muốn chúng di chuyển tốt, ở mỗi đầu của thanh thép phía trên cần lắp thêm một bánh xe thép có đường kính bằng đường kính của bánh xe thép đã nói ở trên và phía ngoài bánh xe cũng lõm vào để có thể lăn đi, lăn lại dễ dàng trên thanh thép đường ray tàu hỏa trong khe thẳng đứng và không thể lệch ra khỏi đường ray đó. Thanh thép ngang phía trên và bánh xe thép gắn ở 2 đầu phải rất chắc chắn. 2 bánh xe thép này phải khá dầy vì khi có sóng thần lớn xảy ra lực nâng lên rất lớn, nó sẽ đập trực tiếp vào đoạn thép nối 2 thanh thép đường ray và khối bê tông ở phía trên. Thanh thép ngang phía dưới chỉ để cho khung vững chắc mà thôi.
      Lực nâng lên, hạ xuống rất mạnh, có thể lên đến hàng trăm tấn vì đó là lực nâng lên, hạ xuống của cả phao bê tông và khung thép. Để tận dụng được hết lực này cần có thêm 2 ổ bi gắn vào 2 trục thép tròn ở phần khung thép và gần ngay với 2 trụ bê tông. Mỗi bên cần gắn 2 thanh thép thẳng đứng vào hai bên của 2 thanh thép ngang và chúng cũng được gắn ngay vào ổ bi của trục thép tròn ở phần khung thép. Mỗi cặp 2 thanh thép thẳng đứng này được nối dài lên phía trên bằng 1 thanh thép tốt dài, rộng bản và khá dày. Ở một bên của thanh thép này cũng có răng như bánh răng để truyền lực. Do 2 thanh thép ngang ở phần trên và 2 trục thép tròn ở phần khung thép đều thường xuyên di chuyển lên xuống trong khe thẳng đứng nên 2 cặp thanh thép thẳng đứng ốp vào nó và thanh thép nối dài cũng thường xuyên nâng lên, hạ xuống theo phương thẳng đứng. Lực nâng lên, hạ xuống rất mạnh nhưng chuyển động lại rất chậm, cần phải làm cho chuyển động nhanh hơn. Thanh thép nối dài lên phía trên của cặp 2 thanh thép thẳng đứng khá dài, rất dễ bị nghiêng ngả sang 2 bên, cần có chỗ dựa để nó luôn luôn thẳng đứng. Vì thế ta cần gắn ngay vào mặt trên của mỗi trụ bê tông hình hộp một trục thép tròn có 2 bánh răng ở 2 bên. Bánh răng phía ngoài trụ tiếp xúc với răng của thanh thép thường xuyên di chuyển lên xuống theo phương thẳng đứng vừa nói trên. Bánh răng này cần đủ lớn để dễ dàng nhận hết lực. Nó cần có 2 nẹp thép dày bao bọc 2 bên răng và cao hơn những răng này để thanh thép có răng chạy lên, chạy xuống theo phương thẳng đứng không thể lệch ra ngoài được. Bánh răng phía trong trụ cần lớn hơn bánh răng phía ngoài trụ gấp mấy lần để truyền lực có chuyển động nhanh hơn gấp mấy lần sang phần chuyển lực được gắn ngay ở mặt trên của trụ bê tông hình hộp. Mặt trên ở phía ngoài của mỗi trụ bê tông cũng cần gắn thêm 1 bánh xe thép có phía ngoài bánh xe lõm vào ôm lấy phía sau của thanh thép có răng để nó có thể chạy lên, chạy xuống dễ dàng nhưng không thể nghiêng ngả được và buộc nó lúc nào cũng phải tiếp xúc để truyền lực cho bánh răng phía ngoài trụ. Thanh thép có răng chạy lên, chạy xuống theo phương thẳng đứng làm cho 2 bánh răng ở hai bên trụ bê tông hình hộp và trục của nó cũng phải quay đi, quay lại theo.
      Phần chuyển lực là phần chuyển lực quay tròn nhưng lúc quay theo chiều này, lúc lại quay theo chiều khác, thành lực quay tròn theo một chiều nhất định. Phần này gồm 1 trục nhận lực và 2 trục khác có bánh răng. Bánh răng của trục nhận lực luôn luôn tiếp xúc với bánh răng lớn phía trong trụ bê tông hình hộp thường xuyên quay đi, quay lại. Bánh răng của trục nhận lực nhỏ hơn nhiều nên trục nhận lực sẽ thường xuyên quay đi, quay lại với tốc độ nhanh hơn nhiều.
      Sơ đồ truyền lực trong phần chuyển lực như trong hình sau:


      Nhận xét: Dù trục nhận lực có quay theo hướng nào thì trục thứ nhất (màu đỏ) vẫn quay ngược chiều kim đồng hồ, còn trục thứ hai (màu xanh) vẫn quay theo chiều kim đồng hồ
      Phần chuyển lực cụ thể như thế nào? Các lực trong nó sẽ biến đổi ra sao? Do bài này đã quá dài, xin làm ơn xem trong phần 2 của bài: “Điện sóng biển – Nguồn điện vô cùng to lớn”.
      Như đã trình bày ở trên, ta thấy phần chuyển lực rất đơn giản, chỉ cần 3 trục quay ngắn. Trục nhận lực có gắn 2 chiếc líp lớn đặt ngược chiều nhau. Trên mỗi trục còn lại gắn 2 bánh răng để nhận lực và truyền lực. Dù trục nhận lực có quay đi, quay lại theo chiều nào, thì các trục còn lại cũng chỉ quay theo một chiều nhất định. Với cách chuyển lực rất đơn giản như vậy, lực ma sát là không đáng kể và hiệu suất gần như đạt 100%.
      Cá trong líp xe đạp rất nhỏ và có lò xo mảnh đẩy cá luôn luôn xòe ra làm líp không thể quay được. Nhưng nếu quay theo chiều ngược lại thì toàn bộ các cá nằm xuống, líp có thể quay dễ dàng. Khi làm líp rất lớn cá trong líp cũng phải lớn theo và các lò xo đẩy cá lên cũng phải thiết kế lại cho to và chắc chắn hơn. Ngay trong trường hợp không có lò xo đẩy lên thì do trọng lượng và lực ly tâm, những cá ở phía dưới cũng tự động xòe ra làm cho líp chỉ có thể quay theo một chiều nhất định. Nếu có loại nào tốt hơn líp thì ta có thể dùng loại đó để thay thế líp.
      Khi có sóng, trục nhận lực lúc thì quay theo chiều kim đồng hồ, lúc thì quay ngược chiều kim đồng hồ. Nhưng trên 2 trục kia thì hoàn toàn khác hẳn, trục thứ nhất luôn luôn quay ngược chiều kim đồng hồ, còn trục thứ hai lại luôn luôn quay theo chiều kim đồng hồ. Từ một trong hai trục này ta có thể truyền lực sang một trục khác để có số vòng quay phù hợp với việc chạy bộ phận nén khí ở ngay cạnh đó và cũng được gắn vào mặt trên của trụ bê tông. Khí nén của bộ phận nén khí này sẽ được chuyển sang đường ống dẫn khí chung ở ngay gần đó để chuyển về lưu giữ ở kho chứa khí nén.
      Sóng biển lúc cao, lúc thấp, lúc mạnh, lúc yếu sẽ làm cho chuyển động quay theo một chiều nhất định lúc nhanh, lúc chậm, lúc mạnh, lúc yếu. Khi chạy bộ phận nén khí sẽ cho khí nén lúc nhiều, lúc ít. Khi sóng nhỏ, việc chạy bộ phận nén khí sẽ làm cản trở nhiều đến hoạt động của phao, làm cho khi ở vùng cao của sóng, phao bị ngập sâu hơn, lực nâng lên sẽ tăng lên; ngược lại khi ở vùng thấp của sóng, phao sẽ ngập ít hơn, lực hạ xuống sẽ tăng lên. Như vậy khi sóng nhỏ, vẫn có đủ lực để chạy bộ phận nén khí, nhưng nó sẽ chạy chậm hơn nhiều và sẽ cho khí nén ít hơn nhiều. Toàn bộ khí nén phát sinh sẽ theo các đường ống dẫn khí nén về các thùng chứa khí nén lớn để dùng dần.
      Phần chuyển lực thường quay với tốc độ không nhanh. Điều này giúp cho việc khi thấy sắp có sóng rất lớn có thể dễ dàng lấy lực từ đó để chạy thêm một bộ phận nén khí nữa và khí nén cũng được đưa vào bờ theo đường ống dẫn khí. Khi đó ta sẽ có 2 bộ phận nén khí ở cạnh nhau. Một bộ phận nén khí thường xuyên chạy. Bộ phận nén khí kia chỉ chạy khi có sóng rất lớn đã hoặc sắp xảy ra. Việc này có thể được điều khiển bằng điện từ trên bờ. Có thể có nhiều cách để làm việc này. Thí dụ như khi nghe dự báo thời tiết biết sẽ có bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa,… sẽ gây ra sóng rất lớn hoặc khi thấy có sóng rất lớn ta gạt cần gạt sang số 2 chẳng hạn, điện sẽ được nối để các động cơ điện nhỏ chạy. Nó từ từ đẩy bánh răng trung gian đi lên theo một đoạn đường cong. Sau khi vượt qua đỉnh và đường cong đã xuống dốc, điện tự ngắt do không còn tiếp xúc, bánh răng trung gian sẽ tự lăn vào vị trí tiếp xúc với bánh răng ở đầu ra của phần chuyển lực và bánh răng truyền lực cho bộ phận nén khí thứ hai. Bộ phận này sẽ hoạt động. Khi sóng biển chỉ còn nhỏ, ta gạt cần gạt sang số 1 chẳng hạn, điện sẽ được nối để các động cơ điện nhỏ khác chạy. Nó từ từ đẩy bánh răng trung gian ra khỏi vị trí tiếp xúc với bánh răng ở đầu ra của phần chuyển lực. Bộ phận nén khí thứ hai sẽ ngừng hoạt động. Sau khi vượt qua đỉnh và đường cong đã xuống dốc, điện tự ngắt do không còn tiếp xúc, bánh răng trung gian tự lăn trở lại về vị trí ban đầu. Các chuyên gia về cơ khí và về điện sẽ còn có nhiều cách làm hay hơn. Việc dùng 1 bộ phận nén khí lớn hay dùng 2 bộ phận nén khí nhỏ hơn tùy thuộc vào việc tính toán hiệu quả kinh tế.
      Sau khi có chuyển động quay theo một chiều nhất định rồi, ta cũng có thể cho chạy máy phát điện một chiều. Điện sản xuất ra được lưu trong các bình ác quy rồi biến đổi thành dòng điện xoay chiều, tương tự như người ta đã làm với điện gió. Nhưng do khối lượng điện ở đây rất lớn, nên ta không dùng cách này. Thêm vào đó về mặt môi trường, ác quy cần nhiều hóa chất và kim loại độc hại như chì để sản xuất. Dùng được một thời gian lại phải thay thế bằng ác quy khác. Các chất dùng để chế tạo ác quy và các ác quy phế thải đều có hại đối với môi trường.
      Việc cho phao và khung thép chạy lên, chạy xuống theo phương thẳng đứng và chuyển động này được biến thành chuyển động quay theo một chiều nhất định để chạy 2 hoặc 4 bộ phận nén khí ở 2 bên phao không hề phụ thuộc gì vào chu kỳ, khoảng cách giữa 2 làn sóng và mực nước biển lên cao, xuống thấp theo thủy triều. Không những thế việc mực nước biển lên cao, xuống thấp theo thủy triều cũng góp một phần nhỏ làm tăng thêm khối lượng khí nén.
      Giữa phao và trụ bê tông cần có một khoảng cách cho phao tự do giao động và nước biển giữa bên trong và bên ngoài có thể lưu thông dễ dàng. Giả thử tổng bề dài của 1 phao, 1 trụ bê tông và khoảng cách của nó là 30 mét chẳng hạn, các thiết bị như vậy được xây liền nhau thì chỉ cần 1 km ven biển, ta đã có thể xây dựng được tới 33 thiết bị loại này. Sóng biển từ ngoài biển xa lao vào bờ, khi đến vùng biển nông ở gần bờ lại gặp hàng phao và trụ bê tông chắn ngang, sóng biển sẽ lại càng lớn hơn. Như vậy các thiết bị lại nhận được nhiều lực của sóng hơn và sẽ cho lượng khí nén nhiều hơn.
      Nếu sau hàng thiết bị chắn ngang đó, sóng biển vẫn chưa giảm nhiều sẽ nảy sinh vấn đề là có nên làm thêm một hoặc vài hàng thiết bị nữa để tận dụng thêm năng lượng của sóng biển hay không?
      Nếu các thiết bị đó được xây dựng ở vùng ven biển có đồi núi kề bên thì phần ở trên bờ có thể xây dựng ở trên cao. Khi có sóng thần xảy ra, do sóng biển vướng đồi núi nên lực đẩy ngang của nước vào các thiết bị đó có thể không quá lớn. Lực mạnh nhất khi đó sẽ là lực đẩy lên vì nó gồm 2 loại lực: Lực nổi lên của 2 phao do bị chìm sâu trong nước biển và lực đẩy lên của sóng thần. Các lực đó cũng đã bị tiêu hao một phần để chạy các bộ phận nén khí. Toàn bộ các thiết bị được xây dựng ở phía dưới đều là thiết bị cơ khí nên khi bị ngâm sâu trong nước biển trong thời gian ngắn cũng không bị hư hỏng. Khi hết sóng thần chỉ cần tra dầu mỡ vào những nơi cần bôi trơn, các thiết bị đó sẽ hoạt động tốt. Phần trên bờ được đặt ở trên cao, sóng thần không vươn tới được sẽ rất an toàn. Nước biển bị bơm lên đến thùng khí vào sẽ tự động chảy ra. Khi hết sóng thần chỉ cần mở vòi nước ở đáy thùng khí vào thì nước biển sẽ chảy ra hết. Sau đó sẽ cho nước ngọt vào để tráng lại cho sạch hết nước mặn.
      3. Phần phát điện ở trên bờ:
      3.1. Kho chứa khí nén và các tổ máy phát điện:
      Sóng biển có lúc to, có lúc nhỏ và gió cũng có lúc mạnh, có lúc yếu. Trong điện gió người ta đã có nhiều cách làm để cho dòng điện được đều đặn. Vì vậy tôi đã tra cứu mục Tuốc bin gió trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trong bài này, tôi thấy có nhiều cách, nhưng tôi chỉ lưu ý đến cách sau cùng. Nguyên văn đoạn đó như sau: “Ngoài ra còn có một cách lưu trữ năng lượng gió khác. Người ta dùng cánh quạt gió truyền động trực tiếp vào máy nén khí. Năng lượng gió sẽ được tích trữ trong hệ thống rất nhiều bình khí nén. Khí nén trong bình sau đó sẽ được lần lượt bung ra để xoay động cơ vận hành máy phát điện. Quá trình nạp khí và xả khí được luân phiên giữa các bình, bình này đang xả thì các bình khác đang được nạp bởi cánh quạt gió. Điện sẽ được ổn dịnh liên tục.”
      Tôi chưa rõ cách vận hành cụ thể của điện gió trong trường hợp này ra sao. Nhưng tôi thấy nó rất hợp với những ý tưởng của tôi, nên trong phần 2, trong mỗi thiết bị đã nêu trên, tôi đã để 2 hoặc 4 bộ phận nén khí và các đường ống dẫn khí về kho chứa khí nén.
      Ý tưởng của tôi về kho chứa khí nén như sau: Trong kho nên có nhiều bình chứa khí nén lớn, có thùng khí vào, thùng khí ra và bể chứa nước ngọt. Trong mỗi bình chứa khí nén và thùng khí này đều nên có đồng hồ đo áp suất. Trong mỗi bình chứa khí nén nên có lối khí vào riêng và lối khí ra riêng. Toàn bộ các lối khí vào của các bình chứa khí nén đều nối với thùng khí vào, mỗi cái có một cửa vào riêng và toàn bộ khí nén từ những thiết bị như đã mô tả ở phần trên đều theo đường ống dẫn khí chung để về đây. Trong thùng này chỉ có 1 cửa mở để đưa khí nén vào bình. Khi bình này đầy, cửa đó sẽ đóng lại và cửa khác lại mở ra để cho khí nén vào bình khác. Khi tất cả các bình đã đầy, áp suất trong thùng tăng cao, van xả khí nén tự động nâng lên để xả bớt khí nén ra ngoài trời. Khi có bình chứa khí nén nào áp suất đã giảm, cửa vào của bình đó sẽ tự động mở để đưa tiếp khí nén vào bình. Nếu trong thùng khí vào, áp suất đã giảm, van xả khí sẽ tự động hạ xuống để đóng lại. Toàn bộ các lối khí ra, cũng được tập trung vào thùng khí ra, mỗi bình chứa khí nén có một cửa ra riêng, nhưng chỉ có 1 cửa mở để đưa khí nén vào chạy các tổ máy phát điện. Khi áp suất trong bình chứa khí nén đó giảm, một cửa khác được từ từ mở ra để khí nén đưa vào không làm tăng đột ngột áp suất của thùng khí ra và cửa cũ được đóng lại. Như vậy các tổ máy phát điện lúc nào cũng có khí nén ổn định để chạy. Khi khí nén vào rất nhiều có thể có trường hợp một bình chứa khí nén vừa mở cửa ra để cho khí nén chạy các tổ máy phát điện, vừa mở cửa vào để tiếp tục nhận khí nén mới và van xả khí ở thùng khí vào vẫn còn được nâng lên để xả bớt khí nén ra ngoài trời. Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, sóng biển thường liên tục mạnh trong nhiều ngày sẽ cho lượng khí nén rất lớn. Vì vậy trong kho cần có nhiều các bình chứa khí nén lớn để ít xảy ra trường hợp phải xả bớt khí nén ra ngoài trời và có dự trữ lớn để sử dụng trong những ngày sóng biển nhỏ. Như vậy khí nén sẽ được cung cấp ổn định và đều đặn cho các tổ máy phát điện. Dòng điện cũng sẽ được sản xuất liên tục, ổn định và đều đặn. Dùng bình chứa khí nén càng lớn thì suất đầu tư cho chứa 1 m3 khí nén càng thấp hơn. Nhưng cũng phải tính đến khả năng có thể vận chuyển được bình khí nén lớn từ nơi sản xuất đến kho chứa chúng ở nhà máy điện. Ưu thế này sẽ thuộc về những nơi sản xuất bình khí nén tốt và ở ngay gần sông, gần biển. Nên nghiên cứu để có thể tự động hóa được quá trình điều khiển này. Việc sửa chữa, bảo dưỡng các tổ máy phát điện nên được làm trong mùa sóng nhỏ.
      Khi sóng thần xảy ra hoặc vì một lý do nào đó mực nước biển đột ngột dâng cao làm ngập cả các bộ phận nén khí gắn ở trên đỉnh các trụ bê tông hình hộp thì các bộ phận nén khí sẽ không còn nén khí nữa mà chỉ nén nước biển lên mà thôi. Mặc dù ở nước ta rất hiếm xảy ra trường hợp này, nhưng ta cũng phải đề phòng. Để đề phòng trường hợp đó, thùng khí vào cần được làm khá cao. Các cửa vào của các bình chứa khí nén cần được để ở nơi cao nhất. Đáy của thùng khí vào cần có một lỗ tròn thoát nước và có một phao khá lớn, phía dưới phao có nút tròn để bịt kín lỗ thoát nước. Do trọng lượng của phao, lỗ tròn bị bịt kín nên khí nén không thể thoát ra ngoài theo lỗ đó được. Khi nước biển bị bơm vào, phao sẽ nổi lên, lỗ thoát nước được mở ra, nước biển sẽ tự chảy ra ngoài. Khi gần hết nước biển, phao hạ xuống và lỗ thoát nước sẽ bị bịt kín lại. Tại nơi thấp nhất của đáy thùng khí vào cũng cần có thêm một vòi nước để thoát hết số nước biển còn lại. Bể chứa nước ngọt cần được đặt cao hơn thùng khí vào và có đoạn ống nối với thùng này. Trên đoạn ống đó có vòi nước để sau khi nước biển đã chảy hết ra ngoài sẽ cho nước ngọt vào để tráng lại thùng khí vào cho sạch hết nước mặn. Sau khi hết sóng thần lớn, phần nước biển bám vào phía trong của các bộ nhận nén khí và các đường ống dẫn khí nén sẽ khô đi và biến thành các hạt muối rất nhỏ. Các hạt muối rất nhỏ này sẽ bị thổi đến thùng khí vào và sẽ đọng lại ở đây. Vì vậy vài ngày sau, ta cũng cần dùng nước ngọt để tráng thêm lần nữa.
      3.2. Thuận lợi do sản xuất điện lệch nhau so với thủy điện vài tháng:
      Nếu đòi hỏi điện sóng biển phải sản xuất điện đều đặn quanh năm thì khối lượng dự trữ khí nén phải rất lớn mới có đủ khí nén để chạy máy phát điện trong suốt mùa sóng nhỏ. Kho chứa khí nén sẽ phải có rất nhiều bình chứa khí nén lớn với áp suất làm việc cao. Các bộ phận nén khí cũng sẽ phải nén khí với áp suất cao hơn áp suất làm việc của các bình chứa khí nén. Như vậy sẽ phải đầu tư rất lớn. Nhưng điện sóng biển có cần thiết phải sản xuất điện đều đặn quanh năm hay không?
      Yêu cầu cung cấp điện chung của cả nước là nguồn điện phải liên tục ổn định và đều đặn quanh năm. Thủy điện chiếm một tỷ trọng lớn nhưng việc cung cấp điện cũng không đều. Mùa mưa, thủy điện có thể cung cấp lượng điện rất lớn, nhưng mùa khô lượng điện lại giảm đi rất nhiều. Trong mùa khô rất cần các nguồn điện khác bổ sung. Các nhà máy thủy điện lớn lại tập trung nhiều ở các tỉnh Bắc Bộ. Trong khi đó thì suốt dọc ven biển Miền Trung từ phía nam tỉnh Thanh Hóa trở vào lại có rất nhiều nơi rất thuận lợi cho việc xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng sóng biển. Mùa mưa ở các tỉnh Bắc Bộ và mùa sóng biển lớn ở ven biển Miền Trung từ phía nam tỉnh Thanh Hóa trở vào lại lệch nhau vài tháng. Khi Bắc Bộ ít mưa thì ven biển Miền Trung từ phía nam tỉnh Thanh Hóa trở vào lại là mùa sóng biển lớn do thường hay bị bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa đông bắc. Vì vậy điện sóng biển ở ven biển Miền Trung có thể là nguồn bổ sung thêm cho sự giảm sút của thủy điện. Nếu nguồn bổ sung đó là rất lớn thì thủy điện ở Bắc Bộ có thể để dành nước cho phát điện vào cuối mùa khô. Từ đặc điểm đó ta có thể thấy điện sóng biển chỉ cần liên tục ổn định, đều đặn theo mùa, có thể sản xuất nhiều điện trong mùa sóng lớn và ít điện trong mùa sóng nhỏ. Do đó các đòi hỏi về dự trữ khí nén và nén khí với áp suất cao sẽ giảm đi rất nhiều, vốn đầu tư cũng sẽ giảm theo và giá thành phát điện cũng sẽ hạ đi nhiều.
      4. Điện sóng biển cho giàn khoan trên biển – Vô cùng thuận lợi:
      Nội dung cụ thể, xin làm ơn xem bài: “Điện sóng biển cho giàn khoan dầu khí – Vô cùng thuận lợi” đã đưa lên Diễn đàn ngày 17/10/2011.
      5. Giảm giá thành điện sóng biển bằng các nguồn thu từ dịch vụ:
      Nội dung cụ thể, xin làm ơn xem bài: “Giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ” đã đưa lên Diễn đàn ngày 03/10/2011.
      Các dịch vụ như ăn uống, nghỉ mát, vui chơi giải trí,… đều đông người. Muốn giảm bớt tiếng ồn ta có thể thay những bánh xe thép chạy trên những thanh thép đường ray tàu hỏa bằng những bánh xe bọc cao su để chạy cho êm. Nhưng những thanh thép đường ray tàu hỏa đó cần được thay bằng những thanh thép chữ U lớn để những bánh xe bọc cao su chạy trong lòng các chữ U lớn đó.

      Như đã trình bày ở trên, ta thấy việc dùng năng lượng của sóng biển để chạy máy phát điện không đòi hỏi gì đến kỹ thuật phức tạp và các xí nghiệp bình thường của ta cũng có thể tự làm một cách dễ dàng. Cụ thể là việc xây trụ bê tông, ở trên trụ có 2 trụ bê tông hình hộp có rãnh thẳng đứng, không khác gì việc xây một trụ cầu. Nếu đắp một đoạn đê tạm bao phía ngoài khu vực xây dựng và dùng bơm hút hết nước biển ra, thì việc xây dựng và lắp đặt những công trình ở trong đó sẽ rất dễ dàng. Sau khi xây dựng xong các trụ bê tông và các đường ống dẫn khí nén, ta dùng đất đắp cao phần giữa của các trụ bê tông và đúc các phao bê tông ngay trên đó. Sau khi đã xây dựng xong toàn bộ công trình, ta sẽ phá bỏ toàn bộ phần đất ở dưới các phao bê tông đi, các phao này sẽ nằm lơ lửng ở trên không. Sau đó ta sẽ lắp đặt các đường ống dẫn khí nén. Sau khi phá bỏ đê tạm cho nước biển tràn vào, các phao sẽ nổi lên, ta sẽ dùng bơm để bơm thêm nước biển vào cho đến khi nửa phao ngập trong nước biển. Sau đó sẽ nút kín lỗ hở trên phao lại. Việc làm các líp lớn cũng tương tự như làm các líp xe đạp thông thường. Các công việc khác như làm khung thép, làm các trục chuyển động, làm các bánh răng, lắp bánh xe thép, làm các đường ống chịu lực lớn, lắp những đoạn ống dẫn khí nén,... thì rất nhiều nơi ở nước ta có thể dễ dàng làm được. Mở mạng máy tính ra ta thấy trong nước ta cũng có một số nhà máy sản xuất máy nén khí và một số nhà máy sản xuất bình chứa khí nén lớn. Có nhiều loại máy nén khí, nhưng do lực tác động lúc mạnh, lúc yếu, lúc nhanh, lúc chậm nên ta cần chọn loại nào cho thích hợp nhất. Tôi rất mừng là trong diễn đàn, anh em đã nói đến loại máy nén khí pít tông nhiều tầng đồng trục có thể cho khí nén với áp suất lớn. Ở đây do đã có lực quay sẵn rồi, nên ta chỉ cần đến bộ phận nén khí trong máy nén khí mà thôi. Như vậy nếu việc này được triển khai sẽ tạo việc làm cho rất nhiều lao động và sẽ thúc đẩy nhiều ngành sản xuất trong nước phát triển theo.
      Lực nâng lên, hạ xuống của các phao trong mỗi thiết bị rất lớn, có thể lên tới hàng trăm tấn. Khi chuyển thành chuyển động quay nhanh hơn cho phù hợp với việc chạy các bộ phận nén khí, lực sẽ giảm đi. Chẳng hạn như khi chuyển thành chuyển động quay nhanh hơn gần chục lần thì lực sẽ giảm đi gần chục lần. Trong quá trình chuyển lực và truyền lực sẽ bị các lực ma sát cản trở chuyển động và làm giảm lực đi. Trừ các lực ma sát đi thì lực sẽ giảm đi khoảng chục lần. Như vậy nếu dùng bộ phận nén khí pít tông chẳng hạn thì khi chuyển thành chuyển động quay nhanh hơn gần chục lần sẽ cho tổng lực nén của các pít tông trong các bộ phận nén khí có thể lên tới hàng chục tấn. Khoảng hơn 3 km ven biển ta đã có thể xây dựng được hàng trăm thiết bị đó, tổng các lực nén của các pít tông trong các bộ phận nén khí có thể lên tới hàng nghìn tấn. Chúng sẽ tạo ra được lượng khí nén rất lớn để chạy các máy phát điện. Nếu ta làm 10 km ven biển hoặc dài hơn nữa thì lượng điện sản xuất ra lại càng lớn hơn. Việc vận hành các nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển cũng tương tự như việc vận hành các nhà máy thủy điện. Trong mùa sóng lớn cho chạy toàn bộ các tổ máy phát điện, phần khí nén không dùng hết sẽ được dự trữ trong các bình chứa khí nén lớn để dùng dần trong những ngày sóng nhỏ. Trong mùa sóng nhỏ chỉ cho chạy một số tổ máy phát điện bằng 2 nguồn khí nén: khí nén mới phát sinh và khí nén dự trữ. Việc bảo dưỡng, sửa chữa các tổ máy phát điện nên làm trong mùa sóng nhỏ. Bằng những công nghệ rất bình thường, nhiều nơi trong nước có thể làm được mà thu được những lực tác động rất lớn, tạo ra lượng khí nén rất lớn để chạy các máy phát điện, lượng điện sinh ra sẽ rất lớn, rất ổn định, đều đặn và có thể dễ dàng hòa vào mạng lưới điện quốc gia. Năng lượng sóng biển là vô tận và không mất tiền mua, điện sóng biển lại lệch pha so với thủy điện vài tháng nên giá thành phát điện có thể sẽ khá rẻ.
      Trong các công việc trên, công việc khó khăn phức tạp nhất là xây dựng những trụ bê tông và những phao bê tông trong vùng biển thường xuyên có sóng. Việc đắp đoạn đê tạm phía ngoài cũng rất khó khăn vì đất đắp sẽ bị sóng biển cuốn trôi đi. Các Công ty của Việt Nam sẽ có rất nhiều cách để giải quyết vấn đề này. Nhưng khi được yêu cầu, họ có thể nêu ra rất nhiều khó khăn để đòi hỏi giá rất cao. Vì vậy tôi cũng có những suy nghĩ về cách đắp đoạn đê tạm này. Nội dung cụ thể xin làm ơn xem trong phần gần cuối của bài: “Điện sóng biển – Nguồn điện vô cùng to lớn”.
      Dùng năng lượng sóng biển để chạy các bộ phận nén khí không hề bị tốn một tí đất nào trên đất liền. Chỉ cần dùng một khu đất ở xa nhà dân để xây kho chứa khí nén và đặt các tổ máy phát điện. Trong suốt dọc bờ biển dài hơn 3.200 km ở nước ta và các hải đảo, bất cứ chỗ nào ở ven biển và ven các đảo cũng đều có thể xây dựng được nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển. Nhưng nên xây dựng ở những nơi thường xuyên có sóng biển tương đối lớn. Vùng có nhiều đảo hoặc bán đảo che ở phía ngoài, sóng sẽ không lớn nên nếu xây dựng ở đây hiệu quả kinh tế sẽ kém. Tốt nhất nên tìm nơi có đồi núi ở ngay gần biển và không có đảo hoặc bán đảo che ở phía ngoài.
      Nếu được xây dựng ở vùng ven biển có đồi núi kề bên và phần trên bờ được đặt ở nơi cao hơn mực nước biển khoảng 40 m chẳng hạn thì dù sóng thần có cao như sóng thần ở Indonesia trước đây hoặc sóng thần ở Nhật Bản xảy ra ngày 11/3/2011, nhà máy điện cũng vẫn an toàn. Động đất hoặc mưa to cũng có khả năng gây ra sạt lở đất đá. Vì vậy phần trên bờ cũng cần tránh những nơi đất đá có khả năng rơi xuống và những nơi có khả năng bị xói lở ở phía dưới. Suốt dọc ven biển từ phía nam tỉnh Thanh Hóa đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có rất nhiều nơi có đồi núi ngay gần sát biển. Một vài nơi ở tỉnh Kiên Giang cũng có điều kiện thuận lợi như vậy.
      Dùng năng lượng của sóng biển để chạy máy phát điện có lợi cho môi trường vì không cần dùng đến bất kỳ một loại nhiên liệu nào. Chỉ cần vài km ven bờ biển thường xuyên có sóng biển, ta cũng có thể xây dựng được hàng trăm thiết bị như đã nói trên. Những thiết bị đặt gần bờ biển này đã chuyển được một phần năng lượng của sóng biển thành khí nén. Vậy sóng biển ở phía trong có giảm bớt hay không và nó có làm giảm được tác động của sóng biển trong việc làm xói lở bờ biển ở phía trong hay không? Nếu sóng biển ở phía trong giảm nhiều thì có thể dùng làm nơi tránh bão cho các tàu thuyền đánh cá và các tàu thuyền nhỏ khác hay không? Kính mong các chuyên gia về môi trường và các chuyên gia về biển giải đáp giúp.
      Trên đây là những ý tưởng của riêng cá nhân tôi, không biết có sai sót gì hay không? Rất mong được nhiều người quan tâm và cho những ý kiến đóng góp để có những ý tưởng hay hơn. Từ những ý tưởng đó còn phải qua quá trình nghiên cứu, tính toán cụ thể, làm thí điểm mới có thể rút ra kết luận chính xác được. Riêng bản thân tôi thấy cần phải trả lời cho được những câu hỏi sau:
      - Muốn lực nâng lên, hạ xuống của sóng biển mạnh, nên để khoảng cách giữa phao và trụ bê tông khoảng bao nhiêu là vừa? Nên xây dựng các thiết bị đó liền nhau thành một dãy dài hay thỉnh thoảng nên để cách quãng cho nước biển dễ dàng lưu thông? Nên xây dựng các thiết bị đó ở nơi đáy biển sâu mấy mét là tốt? Thiết bị như thế nên làm với kích cỡ như thế nào là hợp lý? Một thiết bị như thế có thể sản xuất được khoảng bao nhiêu m3 khí nén trong tháng sóng nhỏ, trong tháng sóng lớn, trong mùa mưa bão và trong cả năm.
      - 1 m3 khí nén đó sẽ cho ra được bao nhiêu kwh điện? Thí dụ cụ thể như: Công ty Cổ phần Nồi hơi Việt Nam sản xuất được loại bình khí nén có dung tích chứa đến 200m3, áp suất làm việc của bình khí nén lên đến 40kG/cm2. Vậy với loại bình khí nén lớn nhất và chịu được áp lực tốt nhất của Công ty này sản xuất, khi dùng để chạy máy phát điện sẽ được bao nhiêu kwh điện sau mỗi lần xả khí? Bộ phận nén khí nên nén đến mức độ nào và áp suất làm việc của bình khí nén nên là bao nhiêu cho có lợi nhất? Điều này rất quan trọng vì nó sẽ quyết định đến công suất của nhà máy điện, đến giá thành phát điện và việc phải dùng bao nhiêu bình chứa khí nén để có thể dùng dần khí nén trong những ngày sóng nhỏ.
      - Nhà máy thủy điện đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, nhưng giá thành phát điện lại rẻ nhất trong các nhà máy điện ở nước ta vì nó không cần đến nhiên liệu để chạy máy phát điện. Dùng năng lượng của sóng biển để chạy máy phát điện sẽ phải dùng rất nhiều vật liệu để làm như làm đoạn đê tạm, xây trụ bê tông, làm phao bê tông, làm khung thép, làm các bộ phận để chuyển lực, truyền lực, chuyển khí nén, làm các bộ phận nén khí, làm các bình chứa khí nén lớn,... nhưng khi vận hành nó cũng không phải dùng đến bất kỳ loại nhiên liệu nào, vậy giá thành phát điện sẽ ra sao? Có rẻ hơn so với giá thành phát điện của các nhà máy phát điện phải dùng than mua của nước ngoài hay không?
      Kính mong các chuyên gia về biển, về cơ khí, nén khí và phát điện nghiên cứu và giải đáp giúp.
      Tôi thấy năng lượng của sóng biển là vô cùng lớn. Sử dụng được nguồn năng lượng đó với giá tương đối rẻ sẽ mang lại lợi ích rất to lớn cho dân, cho nước nên tôi mạnh dạn nêu ra những ý tưởng của tôi. Tôi là người đã ngoài 70 tuổi rồi, không có điều kiện để nghiên cứu nhiều và tôi cũng không có tham vọng làm đề tài khoa học về vấn đề này. Rất mong các nhà khoa học trẻ quan tâm đến nguồn năng lượng vô cùng to lớn đó tiếp tục nghiên cứu để có những ý tưởng hay hơn. Từ đó có thể triển khai những đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể làm cơ sở cho việc xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng sóng biển trên quy mô lớn và rất lớn.
      Bờ biển của nước ta rất dài, năng lượng sóng biển ở ven bờ biển nước ta rất lớn và nguồn năng lượng đó là vô tận. Một vài nước đã có những nghiên cứu về việc dùng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện. Không biết phần chất sám, phần công nghệ rất hiện đại chiếm khoảng bao nhiêu phần trăm trong giá thành? Mỗi cách làm sẽ cho ra một giá thành phát điện khác nhau. Vì vậy rất mong các chuyên gia về điện xem kỹ cách làm của họ để có thể rút ra cách làm cho phù hợp với điều kiện của nước ta. Ta tự làm được bằng những công nghệ rất bình thường, rất nhiều nơi trong nước có thể làm được, giá thành phát điện sẽ rẻ hơn rất nhiều. Bài: “Phát triển điện gió: Đã mở hướng đi” của Hồng Quân đăng trên báo Lao động ngày 9/7/2011 cho biết: “Ngoài ra, do việc phát triển năng lượng sạch, các nhà đầu tư sẽ còn bán được quyền phát thải khí CO2 với giá khoảng 15UScents/tấn (tương đương khoảng 0,906UScents/kWh)”. Năng lượng của sóng biển cũng là năng lượng sạch, được như vậy giá điện sẽ còn rẻ hơn nữa. Nếu giá thành phát điện bằng năng lượng của sóng biển chỉ tương đương hoặc rẻ hơn giá thành phát điện của những nhà máy điện phải chạy bằng than phải mua của nước ngoài, ta sẽ có thể tạo ra được lượng điện vô cùng to lớn cung cấp thoải mái điện cho nền kinh tế quốc dân. Việc xây dựng những nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng của sóng biển sẽ tạo việc làm cho rất nhiều lao động và sẽ thúc đẩy nhiều ngành sản xuất trong nước phát triển theo. Kính mong Đảng, Nhà nước, các tỉnh ven biển quan tâm và giao cho các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu để có những ý kiến cụ thể về vấn đề này. Xin chân thành cám ơn.

      --------------------------------------------------------------------------------
      Xem bài viết cùng chuyên mục:

      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 17-11-2011 lúc 09:14. Lý do: Bổ sung thêm sơ đồ phần chuyển lực
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    2. The Following 3 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    3. #2
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)

      Gần cuối phần 1, tôi còn có 1 đoạn phải tạm bỏ ra, không đưa vào được do bài đã quá dài. Xin được bổ sung thêm như sau:
      Khi chiều rộng của phao lớn sẽ dẫn đến tình trạng chỗ ngập nông, chỗ ngập sâu. Để hạn chế tình trạng đó, ta có thể làm khớp nối ở ngay chính giữa mặt phao. Ngay tại khớp nối đó làm cung tròn lớn bằng thép tốt, phần phía trên của nó có răng, tâm của nó chính là chỗ khớp nối. Cung tròn đó cần đủ lớn để sóng biển rất lớn cũng không thể làm ướt phần có răng của nó được. Phần cung tròn có thể bị sóng biển làm ướt đó nên được bao phủ bằng bê tông. Cột bê tông được thay bằng cột thép để gắn phần chuyển lực và bộ phận nén khí. Khí nén được chuyển bằng đường ống mềm tới đỉnh của trụ bê tông, rồi theo đường ống cứng về kho chứa khí nén. Khi có sóng, phao sẽ nghiêng ngả theo mặt sóng làm cho cung tròn lớn bằng thép có răng phải quay theo. Bánh răng nhận lực của phần chuyển lực luôn luôn tiếp xúc với răng của cung tròn lớn bằng thép cũng sẽ luôn luôn quay theo. Như vậy phần chuyển lực sẽ hoạt động và truyền lực cho bộ phận nén khí để sản sinh ra khí nén. Việc này cũng tương tự như việc dùng lực quay đi, quay lại quanh trục thép tròn để chạy bộ phận nén khí đầu tiên, đã trình bày trong phần 2.1. của bài: “Nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển”. Làm như vậy sẽ có mấy cái lợi sau:
      - Lực nâng lên, hạ xuống sẽ rất lớn do phao rộng. Cũng trong thí dụ đã nêu, nếu chiều rộng của phao tăng lên gấp đôi thành 10 m thì lực nâng lên, hạ xuống tối đa của phao cũng tăng lên gấp đôi thành hơn 400 tấn.
      - Tận dụng được lực quay đi, quay lại trên cung tròn lớn bằng thép có răng do phao nghiêng ngả theo mặt sóng.
      Nhưng sẽ có nhược điểm là:
      - Khi có sóng rất lớn, nước biển sẽ làm ướt các bộ phận bằng thép ở ngay gần mặt phao như: Khớp nối và phần dưới của cột thép. Các bộ phận bị nước biển làm ướt này sẽ có thể chóng hư hỏng và sẽ phải sửa chữa thay thế.
      - Khi phao nằm trong khoảng giữa đỉnh sóng và đáy sóng, nó sẽ nghiêng theo mặt sóng. Nhưng do sóng hình sin, nên khi phao ở đỉnh sóng lực nâng lên lớn nhất tập trung dọc theo giữa phao, khi phao ở đáy sóng lực hạ xuống lớn nhất cũng tập trung dọc theo giữa phao. Khoảng nâng lên, hạ xuống cũng không thể bằng được khi phao hẹp hơn.
      Ta cũng có thể làm khớp nối cao hơn để sóng biển không thể làm ướt chúng được. Nhưng khi đó sẽ ảnh hưởng tới việc nâng lên, hạ xuống của khung thép.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 08-11-2011 lúc 19:15.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    4. The Following 3 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    5. #3
      Tham gia
      15-04-2010
      Bài viết
      150
      Cảm ơn
      6
      Được cảm ơn 59 lần, trong 34 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)

      Công nghệ thì bây giờ trên thế giới đã có nhiều bác àh.có cả nhà máy sản xuất.
      Cháu cũng mới nghiên cứu về điện sóng biển.
      Bác nghiên cứu chắc nhiều rồi, cho cháu hỏi là không biết Việt Nam mình đã có công trình hay dự án nào nghiên cứu về sóng biển chưa?
      Ví dụ như: sóng ở đâu thì mạnh, tần suất, chu kỳ trung bình..mực nước.....v..v.
      Cảm ơn bác.

    6. Những thành viên đã cảm ơn vanbinh852001 vì bài viết hữu ích:


    7. #4
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)

      Rất cám ơn bạn vanbinh852001. Theo tôi biết thì:
      - Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về điện sóng biển. Nhưng rất tiếc là chưa thể cạnh tranh được với các loại điện khác.
      - Ở nước ta cũng đã có một vài nơi nghiên cứu về điện sóng biển. Nhưng với quy mô rất nhỏ.
      - Những nơi có bán đảo hoặc đảo che ngoài, sóng sẽ không mạnh bằng các nơi không bị che. Theo tôi tốt nhất là vùng biển từ phía nam tỉnh Thanh Hóa đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và vùng biển ở tỉnh Kiên Giang. Vì ở đó thỉnh thoảng có đồi núi ở ngay gần biển và không có đảo che ở phía ngoài.
      - Tần suất sóng, chu kỳ sóng, mực nước biển lên cao hoặc xuống thấp theo thủy triều không hề ảnh hưởng gì đến phần chuyển lực trong bài của tôi. Sóng nâng lên hạ xuống theo kiểu nào thì qua phần chuyển lực cũng được chuyển thành chuyển động quay theo một chiều nhất định.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 08-11-2011 lúc 19:51.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    8. Những thành viên đã cảm ơn canlevinh vì bài viết hữu ích:


    9. #5
      Tham gia
      15-04-2010
      Bài viết
      150
      Cảm ơn
      6
      Được cảm ơn 59 lần, trong 34 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)

      -Cháu đang nghiên cứu bài của bác, nếu được bác và cháu kết hợp làm một đề tài khoa học được chứ ạ.Không biết bác đã đăng ký ở đâu chưa?

    10. The Following 2 Users Say Thank You to vanbinh852001 For This Useful Post:


    11. #6
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển (bài bổ sung, sửa đổi lần 2)

      Rất cám ơn bạn vanbinh852001. Năm nay tôi đã 71 tuổi rồi và không có tham vọng làm đề tài. Tôi viết bài này chủ yếu là nêu vấn đề để các bạn tiếp tục nghiên cứu bổ sung thêm cho hay hơn và mong rằng các bạn sẽ nhanh chóng biến nó thành hiện thực mà thôi. Bất cứ ai có yêu cầu gì về vấn đề này tôi sẵn sàng hết lòng đóng góp theo sự hiểu biết của tôi.
      Đối với câu hỏi của bạn lần trước, tôi bổ sung thêm về vùng tôi nghĩ là vùng thuận lợi nhất cho việc xây dựng điện sóng biển. Đó là vùng từ nam tỉnh Thừa Thiên - Huế đến hết tỉnh Phú Yên với các lý do sau:
      - Vùng này rất thông thoáng, gió có thể thổi qua biển hàng ngàn km mà không hề bị vướng đảo nào.
      - Bờ biển vùng này theo hướng bắc tây bắc - nam đông nam nên gió mùa đông bắc thổi trực tiếp vào đây. Thậm chí ngay cả đảo Hải Nam, gió cũng không cần qua.
      - Thời gian hay bị bão, áp thấp nhiệt đới ở vùng này chậm hơn so với vùng Bắc Trung Bộ. Nên sản lượng điện sóng biển lại càng lệch nhiều hơn so với thủy điện ở Bắc Bộ.
      - Vùng này có rất nhiều đồi núi ở ngay gần biển.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    12. The Following 3 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    Trả lời với tài khoản Facebook

    Các Chủ đề tương tự

    1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy
      Bởi lopthietkedien trong diễn đàn TIÊU CHUẨN NGÀNH ĐIỆN
      Trả lời: 0
      Bài cuối: 01-07-2014, 22:29
    2. Cần mua - Mua tụ bù eun sung
      Bởi thachngn trong diễn đàn Công tắc điện, ổ cắm, cầu chì, tụ bù ...
      Trả lời: 1
      Bài cuối: 25-04-2014, 10:59
    3. Cần bán - Cần thanh lý bộ S-mini của sam sung cho điều hòa
      Bởi thuanthu trong diễn đàn Thiết bị điện khác - Chưa phân loại
      Trả lời: 0
      Bài cuối: 31-12-2013, 15:49
    4. Cần bán - Relay bam sung
      Bởi hoangnga_kd trong diễn đàn Thiết bị đóng cắt và đo lường điện
      Trả lời: 0
      Bài cuối: 21-08-2013, 22:09
    5. Cần bán - Bổ sung thêm bộ phận điều khiển đèn đã up
      Bởi mpt_contacts trong diễn đàn Chiếu sáng, đèn trang trí, led quảng cáo
      Trả lời: 0
      Bài cuối: 20-02-2013, 10:37
    Văn Võ Trạng Nguyên
    Hắc Hiệp Đại Chiến Thánh Bài 2
    Đặc Cảnh Diệt Ma
    Khử Ma Đạo Trưởng
    Cương Thi Diệt Tà
    Sự Hình Thành Của Đế Chế Mông Cổ
    NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐÁNG NHỚ CỦA GIẢI GOLF PHÚ MỸ HƯNG 2016