• Webdien.com - Cầu nối dân điện


    1. [HOT] - Webdien đang tuyển các vị trí quản lý cao cấp


  • Trang 1 của 6 1234 ... CuốiCuối
    Kết quả 1 đến 10 của 59
    1. #1
      Tham gia
      08-12-2010
      Bài viết
      71
      Cảm ơn
      25
      Được cảm ơn 22 lần, trong 19 bài

      Mặc định Thuyết tương đối hẹp của einstein sụp đổ

      Học thuyết tương đối hẹp của einstein khoa học hay thần học?


      Sóng âm lan truyền qua môi trường không khí, bởi thế khi có gió thì vận tốc sóng âm thay đổi. Thuyền bơi trên mặt sông khi nước trong dòng sông chuyển động thì thuyền cũng chuyển động. Ánh sáng lan truyền trong môi trường nước bởi thế khi nước chuyển động vận tốc ánh sáng thay đổi thí nghiệm fizeau. Suy ra ánh sáng lan truyền trong môi trường không khí khi có gió vận tốc ánh sáng sẽ thay đổi nhưng điều này là khó nhận ra. Ánh sáng lan truyền trong chân không nếu chân không dịch chuyển thì vận tốc ánh sáng ắt phải thay đổi. Chân không thì không thể dịch chuyển nhưng trong chân không xung quanh vật chất luôn có trường hấp dẫn. Trường này cũng là một dạng vật vật chất (trường) nó luôn luôn chuyển động và có xu hướng bắt các vật trong trường chuyển động theo vật chuyển động thì trường chuyển động theo, nếu trường hấp dẫn đủ mạnh sự chuyển động của trường đã làm cho vận tốc cũng như quỹ đạo tia sáng thay đổi rõ rệt.

      Đào Thanh Oai


      - Phương trình đường trường hấp dẫn mặt trời, phương trình quỹ đạo tia sáng khi đi qua bề mặt mặt trời và hiệu ứng chuyển động bề mặt
      - Áp dụng ý tưởng về hiệu ứng chuyển động bề mặt giải thích thí nghiệm Michalson-Morley
      - Giải thích thí nghiệm Sitter về quan sát hệ sao đôi
      - Công thức biến đổi Lorentz hoàn toàn sai. Cơ sở toán học của thuyêt tương đối hẹp bị lật đổ.
      - Công thức E=mc2 và công thức biến đổi Lorenzt không thể đúng đồng thời
      - Sự ngộ nhận trong cách giải thích thí nghiệm fizeau bằng biến đối lorenzt. Một Bằng chứng thực nghiệm cho thấy thuyết tương đối sai
      - Thời gian có tính chất tuyệt đối không phụ thuộc vào hệ quy chiếu. Giải thích tính tương đối của sự đồng thời.
      - Kết quả tính toán độ lệch tia sáng khi đi qua bề mặt mặt trời
      - Hệ quả hố đen



      I- Phương trình đường trường hấp dẫn mặt trời, phương trình quỹ đạo tia sáng khi đi qua bề mặt mặt trời và hiệu ứng chuyển động bề mặt

      Phương trình đường trường hấp dẫn của mặt trời:


      r''=sqrt{Ω^4r^2f^2(r)+(GM/r^2-Ω^2rf(r))^2}
      x=r'cos(α)t
      α=arctg[(y0-y)/(x0-x)]-arctg[(Ω^2rf(r))/(GM/r^2-Ω^2rf(r))]
      y=y0-sqrt[r^2-(x-x0)^2]


      Trong đó:
      - Hàm f(r) là một hàm trượt trường nhận giá trị từ 0 đến 1. Khu vực trường hấp dẫn mạnh f=1 và khi r=vô cùng thì f=0
      - Các (x,y) xác định được vẽ lên quỹ đạo của trường
      - r là khoảng cách từ (x,y) đến tâm khối mặt trời
      - α là góc hợp bởi cường độ tổng hợp (của cường độ ly tâm và cường độ hấp dẫn) với phương Ox
      - Gốc tọa độ O là một điểm di chuyển cùng khối tâm của mặt trời
      - x0;y0 tọa độ khối tâm của mặt trời
      - Ω là vận tốc góc tự quay của mặt trời

      Phương trình quỹ đạo tia sáng khi đi qua bề mặt mặt trời và hiệu ứng chuyển động bề mặt

      Hình vẽ xem ở phía dưới


      r''=sqrt(Ω^4r^2+G^2M^2/r^4)
      x=[c+(or"-")r'cos(α)]t
      α=arctg[(y0-y)/(x0-x)]-(or"+")arctg[(Ω^4r^6)/(G^2M^2)]
      y=y0-sqrt[r^2-(x-x0)^2]

      Trong đó:

      - Các (x,y) xác định được vẽ lên quỹ đạo của trường
      - r là khoảng cách từ hạt phô tôn đến tâm khối của mặt trời
      - α là góc hợp bởi cường độ tổng hợp (của cường độ ly tâm và cường độ hấp dẫn) với phương Ox
      - Gốc tọa độ O là một điểm nằm trên quỹ đạo tia sáng khi photon chưa chịu ảnh hưởng đáng kể bởi lực hấp dẫn của mặt trời;
      - Tại O tia Ox trùng với tia sáng và Oy vuông góc với tia sáng
      - x0;y0 tọa độ khối tâm của mặt trời
      - Ω là vận tốc góc tự quay của mặt trời
      - Tia sáng chuyển động cùng chiều quay trong công thức tính x lấy dấu cộng, trong công thức tính góc anpha lấy dấu trừ và ngược lại.

      Khi tia sáng chuyển động với phương tiếp tuyến với mặt trời(trái đất); mặt trời (trái đất) quay, trường xung quanh mặt trời trái đất quay sẽ kéo theo hoặc cản trở sự chuyển động của photon với một vận tốc tương ứng vận tốc bề mặt gọi là hiệu ứng chuyển động bề mặt.

      Hiệu ứng chuyển động bề mặt

      Hiệu ứng chuyển động bề mặt là hiệu ứng mà khi một vật chuyển động sẽ có xu hướng kéo các vật ở bề mặt chuyển động theo dưới tác dụng của lực(lực ma sát, lực hấp dẫn, lực điện từ…)

      Ở những nơi có trường hấp dẫn lớn vận tốc của phô tôn khi đi ngang qua bề mặt sẽ bằng vận tốc ban đầu cộng vận tốc bề mặt của vật chuyển động khi chuyển động cùng chiều hoặc bằng vận tốc ban đầu trừ đi vận tốc bề mặt khi chuyển động ngược chiều.

      II-Áp dụng ý tưởng về hiệu ứng chuyển động bề mặt giải thích thí nghiệm Michalson-Morley


      Thí nghiệm Michalson-Morley quan sát thấy vận tốc tương đối của ánh sáng là hằng số dù ánh sáng chuyển động cùng chiều hay ngược chiều quay của trái đất.

      - Phô tôn được coi là có khối lượng => nó phải chịu tác động bởi trường hấp dẫn.

      - Hình ảnh ánh sáng bẻ cong quan sát được khi nhật thực toàn phần là một minh chứng cho việc phô tôn bị trường hấp dẫn tác động.

      - Hạt phô tô chuyển động theo một xu hướng chuyển động ban đầu và có vận tốc là c=300000(km/s), khi đi qua bề mặt trái đất(hay những nơi có trường hấp dẫn đủ lớn) chịu sự hấp dẫn của bề mặt trái đất. Chuyển động của phô tôn sẽ chịu tác động bởi sự chuyển động của bề mặt trái đất thông qua trường hấp dẫn điều đó khiến cho khi quan sát từ trái đất vận tốc của phô tôn là như nhau. Trái đất quay theo chiều từ A đến B với vận tốc là V (km/s).

      1- Khi tia sáng chuyển động cùng chiều với chiều quay của trái đất, chuyển động của bề mặt trái đất thông qua trường hấp dẫn tác động nên các hạt phô tôn làm cho các hạt phô tôn cũng chuyển động nhanh hơn với vận tốc là V (km/s) vận tốc ánh sáng lúc này là c+V (km/s) nên trong trường hợp này vận tốc ánh sáng quan sát được vẫn là c (vì người quan sát chuyển động cùng chiều với chiều truyền ánh sáng)

      2- Ngược lại tia sáng chuyển động với chiều ngược lại với chiều quay của trái đất, chuyển động của bề mặt trái đất thông qua trường hấp dẫn tác động nên các hạt phô tôn làm cho các hạt phô tôn cũng chuyển động chập hơn với vận tốc là V, vận tốc tuyệt đối của ánh sáng lúc này là c-V nên khi quan sát trong trường hợp này vận tốc ánh sáng vẫn là c (vì người quan sát chuyển động ngược chiều với chiều truyền ánh sáng). Cách giải thích trên hoàn toàn phù hợp với kết quả thí nghiệm Michalson-Morley.

      Việc không quan sát được vận tốc tuyệt đối của ánh sáng giống việc từ mặt đất không quan sát được vận tốc tuyệt đối của viên đạn khi viên đạn bắn ra từ một khẩu súng trên mặt đất đi theo chiều quay hay đi ngược chiều quay trái đất. Hay việc một máy bay, nếu để cùng một công suất đẩy thì dù bay ngược chiều hay cùng chiều với chiều quay của trái đất nếu quan sát từ mặt đất thì vận tốc là như nhau. Nhưng nếu quan sát từ một vị trí bên ngoài trái đất không phụ thuộc vào trái đất sẽ cho kết quả là viên đạn hay máy bay chuyển động cùng chiều sẽ có vận tốc nhanh hơn so với viên đạn, máy bay chuyển động ngược chiều.

      III-Giải thích thí nghiệm Sitter về quan sát hệ sao đôi


      Năm 1913 de Sitter đã bác bỏ phép cộng vận tốc Galileo đối với ánh sáng trên cơ sở quan sát chuyển động của các ngôi sao đôi. Tức là Sitter quan sát và thấy được vận tốc ánh sáng không phụ thuộc vào sự chuyển động của nguồn phát sáng.
      Giải thích thí nghiệm Sitter về quan sát hệ sao đôi

      Tiên đề - Vận tốc ánh sáng không được gia tốc bởi sự chuyển động của nguồn phát sáng


      Căn cứ đưa ra tiên đề:
      - Khi vừa được sinh ra phô tôn đã chuyển động rất nhanh nên không có nguồn phát sáng nào nhanh bằng để đuổi kịp và tương tác lực(do ảnh hưởng của chuyển động) làm gia thêm tốc độ chuyển động cho nó, hoặc hạn chế tốc độ của nó. Sự chuyển động rất nhanh của phô tôn đó tạo ra một lớp đệm khiến cho sự chuyển động của nguồn không thể gia tốc hay hãm tốc các hạt phô tôn.
      - Lý do thứ hai là giả sử nếu như vì sự chuyển động của nguồn phát dẫn đến sự va chạm của nguồn phát vào các hạt phô tôn vừa được sinh ra. Như vậy hạt phô tôn này lập tức biến đổi năng lượng của nó thành nhiệt năng, chỉ có hạt phô tôn không bị sự va chạm do chuyển động của nguồn mới bay đi tạo thành tia sáng.

      Áp dụng trực tiếp tiên đề: Vận tốc ánh sáng không được gia tốc bởi sự chuyển động của nguồn phát sáng. Vì không tác dụng được lực do chuyển động tác động lên phô tôn (do phô tôn rất nhỏ và có vận tốc rất nhanh) nên việc ông sao có chuyển động lại gần hay ra xa cũng không hưởng gì đến vận tốc ánh sáng. Vận tốc ánh sáng vẫn là c=3.10^8 m/s.

      Giải thích thêm

      Hầu hết mọi người vận ngộ nhận rằng vật chủ chuyển động thì các vật trên nó phải chuyển động theo với vận tốc tương ứng. Nhưng trường hợp sau chỉ ra không phải như vậy.
      - ông sao chuyển động không làm cho vận tốc của ánh sáng tăng nên không có nghĩa là vận tốc của ánh sáng với vì sao đó là hằng số!

      1- Ví dụ người đứng trên đoàn tàu, giữa người và đoàn tàu không có ma sát, người được gia tốc với vận tốc ban đầu là V. Anh hưởng lôi kéo chuyển động dưới tác dụng hấp dẫn của người và đoàn tàu là gần như bằng không(để không gây ra hiệu ứng chuyển động).

      2- Rõ ràng là khi tàu chuyển động nhanh hay chậm thì cũng không gia tốc cho người đó.

      3- Nhưng vận tốc của người đó và tàu rõ ràng là không phải bằng hằng số. vẫn tuân theo công thức cộng vận tốc Galile. Vận tốc của người so với điểm mốc đứng yên bên ngoài là V; vận tốc đoàn tàu so với điểm mốc đó là U. Thì vận tốc người đó so với tàu vẫn là V+U
      Ví dụ trên không vi phạm công thức Galile, không vi phạm kết quả thí nghiệm của Sitter, tiên đề 2 của einstein hoàn toàn sai.

      Tiên đề 2 có hai ý:

      - ý thứ nhất là vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn(nếu so với một mốc đứng yên tuyệt đối thì mình không có ý kiến gì).

      - ý thứ hai là vận tốc này không phụ thuộc vào hệ quy chiếu điều này mình bác bỏ thông qua hai cách giải thích về thì nghiệm của Michalson-Morley và sitter ở trên


      IV-Công thức biến đổi Lorenzt sai


      1. Trình bày nội dung cách xây dựng công thức biến đổi lorentz theo sách giáo khoa vật lý đại cương

      Lorentz tìm ra phép biến đổi các tọa độ không gian và thời gian khi chuyển từ hệ xu hướng chuyển động này sang hệ xu hướng chuyển động khác, thỏa mãn các yêu cầu của thuyết tương đối Einstein. Phép biến đổi này được gọi là phép biến đổi Lorentz. Phép biến đổi Lorentz dựa trên hai tiên đề của Einstein.

      Xét hai hệ qui chiếu xu hướng chuyển động K và K’. Tại t = 0, hai gốc O, O’ trùng nhau, K’ chuyển động thẳng đều so với K với vận tốc V theo phương x. Theo thuyết tương đối thời gian không có tính chất tuyệt đối mà phụ thuộc vào hệ qui chiếu, nghĩa là t ≠ t’.
      Giả sử tọa độ x’ là hàm của x và t theo phương trình:
      x’ = f(x,t) (1)
      Để tìm dạng của phương trình trên ta hãy viết phương trình chuyển động của hai gốc tọa độ O và O’. Đối với hệ K, gốc O’ chuyển động với vận tốc V. Ta có:

      x = Vt hay x – Vt = 0 (2)

      x là tọa độ của gốc O’ trong hệ K. Đối với hệ K’, gốc O’ đứng yên, do đó tọa độ x’ của nó sẽ là:
      x’ = 0

      Phương trình (1) cũng phải đúng đối với điểm O’, điều đó có nghĩa là khi ta thay x’ = 0 vào phương trình (1) thì phải thu được phương trình (2), muốn vậy thì:

      x’= α (x-Vt) (4)

      trong đó α là hằng số. Đối với hệ K’, gốc O chuyển động với vận tốc –V. Nhưng đối với hệ K, gốc O là đứng yên. Lập luận tương tự như trên ta có

      x = β (x’+vt’) (5)

      trong đó β là hằng số.

      Theo tiên đề thứ nhất của Einstein thì mọi hệ qui chiếu xu hướng chuyển động đều tương đương nhau, nghĩa là từ (4) có thể suy ra (5) và ngược lại bằng cách thay V→-V, x ↔x’, t ↔ t’. Suy ra: . β = α
      Theo tiên đề hai: x = ct → t = x/c
      x’ = ct’ → t’ = x’/c

      Thay t và t’ vào (4) và (5) ta có: x’=α(x-xV/c); x=α(x’+x’V/c)

      Nhân vế với vế của hai hệ thức trên, sau đó rút gọn ta nhận được:
      α= 1/sqrt(1-V2/c2)

      Thay α vào các công thức trên ta nhận được các công thức của phép biến đổi Lorentz.
      Phép biến đổi Lorentz:

      x’=(x-Vt)/ sqrt(1-V2/c2); x= (x’+Vt’)/sqrt(1-V2/c2) (6)
      t’=(t-Vx/c2)/ sqrt(1-V2/c2); t= (t’+Vx’)/ sqrt(1-V2/c2) (7)

      Vì hệ K’ chuyển động dọc theo trục x nên y = y’ và z = z’.

      Từ kết quả trên ta nhận thấy nếu c → ∞ (tương tác tức thời) hay khi V ⁄c → 0 (sự gần đúng cổ điển khi V << c) thì:

      x’ = x –Vt, y’ = y, z’ = z, t’ = t
      x = x’ +Vt, y = y’, z = z’, t = t’

      nghĩa là chuyển về phép biến đổi Galileo.

      Khi V > c, tọa độ x, t trở nên ảo, do đó không thể có các chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng.

      Giả sử v là vận tốc của chất điểm đối với hệ xu hướng chuyển động K, v' là vận tốc của cũng chất điểm đó đối với hệ xu hướng chuyển động K'. Hệ K' chuyển động thẳng đều với vận tốc V đối với hệ K dọc theo phương x. Ta hãy tìm định luật tổng hợp vận tốc liên hệ giữa v và v'.

      Theo phép biến đổi Lorentz:
      dx’= (dx-Vdt)/ sqrt(1-V2/c2); dt’=(dt-V/c2dx)/ sqrt(1-V2/c2)
      suy ra:
      v’x= dx’/dt’=(dx-Vdt)/ (dt-V/c2dx)= (vx-V)/(1-Vvx/c2)
      Nếu V/c <<1 khi đó v’x= vx-V; v’z= vz; v’z= vz như cơ học cổ điển. Nếu vx= c sẽ suy ra:
      v’x= (c-V)/(1-Vc/c2)=c

      2. Cách chứng minh biến đổi lorentz không chặt chẽ
      - Điểm không chặt chẽ thứ nhất là t trong trường hợp 2 khác t trong trường hợp 1 nên không thể thay t ,t’ trong trường hợp 2 bằng x/c hay x’/c như thế.

      Hiển nhiên là:

      Thời gian t trong trường hợp 1 là t=x/V;

      Thời gian t trong trường hợp 2 là: t=x/c

      Rõ ràng là x/V khác x/c không thể đánh đồng chúng với nhau

      Giải thích thêm phần này như sau:

      Trích nguyên văn lời bình luận của một bạn đọc trong diễn đàn:

      “Cách chứng minh trong sách là chặt chẽ về toán. Có thể diễn giải nó hơi khác đi 1 chút như sau. Vì phép biến đổi cần phải tuyến tính để bảo đảm phép biến đổi ngược cũng đồng dạng, nên nó sẽ có dạng:
      x'=Ax+Bt
      t'=Cx+Dt
      trong đó A,B,C,D là các hệ số chưa biết. Để xác định các hệ số này ta sử dụng các trường hợp cụ thể đã biết kết quả mà phép biến đổi cũng phải nghiệm đúng với. Đó là hai trường hợp giới hạn ứng với vật có vận tốc bằng không và có vận tốc ánh sáng.”


      Ở dưới tôi có trả lời như sau:

      Trường hợp giới hạn ứng với vật có vận tốc bằng không trong hệ quy chiếu 2 gọi là trường hợp 1
      Trường hợp vật có vận tốc ánh sáng trong hai hệ quy chiếu ứng với trường hợp 2.

      Trong trường hợp 1 các đại lượng về thời gian và không gian trong hai hệ là t1;t1';x1;x1' trong trường hợp 2 các đại lượng về thời gian không gian trong hai hệ là t2;t2';x2,x2' làm sao có thể gán cái t1;t1';x1;x1' đồng nhất với cái t2;t2';x2,x2' để rút ra được các giá trị A, B, C, D;

      Hay nói cách khác: Các nhà toán học, vật lý học vì quên không thay các ký hiệu trên trong trường hợp giới hạn ứng với vật có vận tốc bằng 0 trong hệ quy chiếu chuyển động và vật có vận tốc ánh sáng trong 2 hệ quy chiếu nên đã đồng nhất bộ đó với t,t',x,x' nên đã đi ra được các công thức Lorenzt.

      Các bạn thử nghĩ xem có đúng không?

      Hình như các bạn vẫn không hiểu nên tôi tôi có giải thích thêm như sau:

      Bây giờ tôi lấy một ví dụ khác cho các bạn dễ hình dung hơn nhé:

      Đối với lĩnh vực điện; khi dòng điện đi vào qua một hệ thống điện; sau đó đi ra; dòng điện điện áp ở đầu vào là U1;I1; dòng điện điện áp ở đầu ra là U2;I2

      Mạng hai cửa được mô tả bởi hệ phương trình:

      U2=AU1+BI1
      I2= CU1+DU1

      Đối với mỗi mạng hai cửa thì A,B,C,D là cố định; như thế U2 và I2 chỉ phụ thuộc vào U1 và I1;

      Người ta dùng hai trường hợp để xác định A, B, C, D đó là trường hợp
      ngắn mạch đầu ra gọi là trường hợp 1; và trường hợp hở mạch đẩu ra gọi là trường hợp 2;
      Đối với trường hợp 1 thì bộ ẩn (U2,I2,U1,I1)1
      Đối với trường hợp 2 thì bộ ẩn (U2,I2,U1,I1)2

      Tuy A,B,C,D là cố định trong mọi trường hợp nhưng bộ số (U2,I2,U1,I1)1 kh ác (U2,I2,U1,I1)2.

      Tương tự như vậy chyển sang biến đổi Lorenzt:
      Trong trường hợp 1 có một t gọi là t1; trong trường hợp 2 có một t gọi là t2; mặc dù có các hệ số A,B,C,D trong phương trình chuyển đổi.

      x'=Ax+Bt
      t'=Cx+Dt


      (Đây là một hệ phương trình đại số chứ không có gì xa lạ)

      Nhưng t trong trường hợp 1 khác t trong trường hợp 2 ; nhưng cách chứng minh đã đánh đồng t hai trường hợp này lại với nhau, nên mới rút ra được hệ số Lorenzt; cách ch ứng như thế là hoàn toán sai về mặt toán học.


      - Điểm không chặt chẽ thứ hai là quá trình xây dựng công thức lorentz đã thừa nhận là x = ct và x'=ct' nghĩa là đạo hàm dx/dt=c và đạo hàm dx'/dt'=c sau khi chứng minh được các công thức chuyển đổi giữa x, x’, t, t’ sau đó dẫn ra v và v' lại lấy v=dx/dt và v'=dx'/dt' rõ ràng là với v và v' khác c. Nói cách khác dù gì đi chăng nữa v và v’ không luôn luôn bằng c.

      - Điểm không chặt chẽ thứ ba là trong quá trình xây dựng công thức lorentz đã quy ước x là tọa độ của điểm O’ trong hệ K; trong khi dẫn xuất thì công thức v=dx/dt cũng phải là vận tốc của O’ trong hệ K; Mặt khác vận tốc của O’ trong hệ K theo quy ước ban đầu rõ ràng là V; dù gì đi nữa thì V khác v.

      Vậy phép biến đổi lorentz về mặt toán học là không chặt chẽ về mặt toán học

      V-Công thức E=mc2 công thức biến đổi Lorenzt không thể cùng đúng


      Trước tiên ta thừa nhận một nguyên lý sau:

      Trạng thái năng lượng toàn phần của hệ sự vật hiện tượng không phụ thuộc vào việc chúng ta quan sát nó như thế nào, nếu sự quan sát đó không gây ảnh hưởng gì đến hệ.

      Theo thuyết tương đối hẹp, khi một vật chuyển động với vận tốc lớn gần bằng vận tốc ánh sáng thì khối lượng của vật không phải là hằng số mà được tính theo công thức:
      m(v)= m0γ(v)

      Trong đó:

      - γ(v)=1/sqrt(1-v2/c2)

      - m0 là khối lượng trong hệ quy chiếu mà nó đứng im.

      - v là vận tốc của vật

      Áp dụng công thức trên trong hai trường hợp là khi vật chuyển động với vận tốc v1 và v2 ta có
      m(v1)= m0γ(v1) và m(v2)= m0γ(v2)

      Năng lượng toàn phần trong hệ ban đầu là

      E=m(v2)c2= m0γ(v2) c2

      Mặt khác nếu có một hệ quy chiếu chuyển động với vận tóc v1, lúc đó vật chuyển động với vật tốc v1 được coi là đứng yên vật chuyển động với vận tốc v2 sẽ có vận tốc tính theo công thức biến đổi Lorenzt là:

      v’2=(v2-v1)/(1-v2v1/c2)

      Lúc đó khối lượng của vật được tính theo công thức

      m(v’2) = m(v1) γ(v2’)= m0γ(v1) γ(v2’)

      và năng lượng của vật tính theo công thức

      E= m(v’2)c2= m0γ(v1) γ(v2’) c2

      Theo định luật bảo toàn năng lượng thì năng lượng toàn phần được bảo toàn, Và nguyên lý cơ bản ở trên trạng thái năng lượng của hệ sự vật hiện tượng không phụ thuộc vào việc chúng ta quan sát nó như thế nào, nếu sự quan sát đó không gây ảnh hưởng gì đến hệ. Nên
      m0γ(v2) c2= m0γ(v1) γ(v2’) c2

      Tương đương với:
      γ(v2)= γ(v1) γ(v2’) điều này là vô lý

      Do đó công thức biến đổi lorenzt và công thức E=mc2 không thể đồng thời đúng. Nhưng vì chúng là một nên cả hai phải sai.


      VI-Sự ngộ nhận trong cách giải thích thí nghiệm fizeau bằng biến đối lorenzt


      Vì tôi không thể coppy được những công thức dưới dạng file ảnh mời các bạn vào đọc trang web

      http://vietsciences.free.fr/giaokhoa...ongdoi.htm#V-3

      Mục 3.

      "Giải thích thí nghiệm Fizeau bằng công thức biến đổi Lorentz

      Fizeau thực hiện thí nghiệm vào năm 1951 với mục đích là đo vận tốc ánh sáng trong môi trường chuyển động. Ta biết vận tốc của ánh sáng trong một môi trường có chiết suất n bằng v=c/n. Nếu ánh sáng truyền trong môi trường mà bản thân môi trường lại chuyển động với vận tốc u khá lớn gần với vận tốc ánh sáng thì tốc độ truyền của ánh sáng trong môi trường đó so với hệ qui chiếu đứng yên sẽ thay đổi.

      Mô tả: Một tia sáng đơn sắc đi từ nguồn sáng laser A đến bản nửa phản xạ và nửa truyền qua B chia làm hai tia. Hệ tia phản xạ BKDEB sau khi phản xạ trên gương B một lần nữa đi vào máy giao thoa F. Hệ tia truyền qua và phản xạ BEDKB sau khi truyền qua gương B một lần nữa đi vào cùng đi vào máy giao thoa F. Hai tia sáng kể trên đi qua một quãng đường như nhau nhưng các tia sáng khi đi qua quãng đường KD và BE thì truyền qua chất lỏng. Nếu môi trường chất lỏng đứng yên thì hiệu quang trình của hai tia sáng vào F là như nhau. Tuy nhiên trong thí nghiệm thì môi trường là đang chuyển động với vận tốc u (hình 1.7) Ðiều nầy làm cho hiệu quang trình của hai tia sáng vào F là thay đổi , dẫn đến sự lệch của vân sáng trung tâm. Ðo độ lệch của vân sáng trung tâm, ta có thể tính lại hiệu quang trình của hai tia. Nếu đo chính xác các khỏang cách KD và BF ta sẽ xác định vận tốc truyền ánh sáng trong chất lỏng đối với hệ qui chiếu đứng yên....(phần.....tôi không insert vào được vì nó là công thức dưới dạng ảnh)

      Vậy ta kết luận vận tốc ánh sáng trong các môi trường luôn tuân theo công thức cộng vận tốc Lorentz.”
      Sự ngộ nhận trong cách giải thích trên


      Ý định muốn chứng minh rằng biến đổi Lorenzt phù hợp với kết quả thí nghiệm này.

      Kết quả thí nghiệm được minh họa bằng công thức: 1.38

      Biến đổi Lorenzt đi đến công thức 1.40

      Vì công thức 1.38 và 1.40 là giống nhau cho nên đạt được thành công trong cách giải thích. Nhưng thực ra công thức 1.40 đã giống một công thức sai 1.38 vì để đi đến công thức 1.38 đã có một chỗ ngộ nhận.

      Là ngộ nhận nhận vận tốc ánh sáng trong cả hai trường hợp trong toàn bộ hành trình là c, chỉ khác nhau về thời gian. Do đó kéo theo S1=ct1; S2=ct2 và suy ra ΔS=S2-S1 = cΔt. Điều này rõ ràng là không đúng vì vận tốc ánh sáng khi đi trong chất lỏng, chất lỏng chuyển động là khác c.

      Tức là công thức 1.38 sai

      Tại sao công thức biến đổi Lorenzt khớp với một công thức 1.38??? :28: Vì cả hai đều xuất phát từ s=ct(hay x=ct)

      Hướng giải mới

      Để hai tia sáng có thể gặp nhau vào giao thoa được thì kể từ khi nguồn phát tia sáng thì cần phải một thời gian lớn hơn t1; và muốn tia sáng gặp nhau để giao thoa thì chúng phải giao thoa cùng thời điểm. Chẳng hạn thời điểm t1 hoặc t2 hoặc bất kỳ thời điểm nào lớn hơn t1 thì hiệu quang trình luôn cho cùng một kết qủa,và được tính như sau:
      Trong khoảng thời gian 0 đến t1 ánh sáng đi theo chiều BKDEBF sẽ đi được một quãng đường là:

      S1=∫_0^t1▒v1dt =∫_0^t0▒v1dt+∫_t0^(t0+(L/(v+ku))▒v1dt=ct0+(v+ku)(t0+L/(v+ku)-t0)=ct0+L

      Nếu theo chiều thứ BEDKBF trong khoảng thời gian từ 0 đến t1 ánh sáng mới đi được một quãng đường là:

      S2= ∫_0^t1▒v2dt=∫_0^t0▒v2dt+∫_t0^(t0+(L/(v+ku))▒v2dt=ct0+L(v-ku)/(v+ku)

      Hiệu quang trình là:
      S1-S2=2Lku/(v+ku)

      Kết quả thí nghiệm cho thấy
      k=Av/(1-Au) (1)
      Trong đó:
      A=(n^2 (n^2-1)c)/(n^4 v^2-(n^2-1)^2 u^2 )

      Lúc này vận tốc ánh sáng là
      v±=v±ku

      Với k được tính theo công thức (1)

      Bây giờ công thức biến đổi Lorenzt liệu có còn giải thích được kết quả thí nghiệm fizeau không?


      VII. Thời gian có tính chất tuyệt đối không phụ thuộc vào hệ quy chiếu.

      Bắt đầu chương “thuyết tương đối hẹp” trong chương trình vật lý đại cương có nội dung sau:
      “Xét hai hệ qui chiếu quán tính K và K'. Hệ K' chuyển động thẳng đều với vận tốc V so với hệ K, dọc theo phương x. Theo phép biến đổi Galileo, thời gian diễn biến một quá trình vật lí trong các hệ qui chiếu quán tính K và K’ đều như nhau: t = t’. Khoảng cách giữa hai điểm 1 và 2 nào đó đo được trong hai hệ K và K’ đều bằng nhau:
      Δl = X1-X2 = Δl’ = X’1-X’2
      Trong hệ K trong hệ K’
      Vận tốc của chất điểm chuyển động trong hệ K bằng tổng các vận tốc của chất điểm đó trong hệ K’ và vận tốc V của hệ K' đối với hệ K:
      v = v’+V
      Tất cả các kết quả trên đây đều đúng đối với v << c. Nhưng chúng mâu thuẫn với lí thuyết tương đối của Einstein. Theo thuyết tương đối: thời gian không có tính tuyệt đối, khoảng thời gian diễn biến của một quá trình vật lí phụ thuộc vào các hệ qui chiếu. Đặc biệt khái niệm đồng thời phụ thuộc vào hệ qui chiếu, tức là các hiện tượng xảy ra đồng thời ở trong hệ qui chiếu quán tính này sẽ không xảy ra đồng thời ở trong hệ qui chiếu quán tính khác.
      Để minh họa chúng ta xét ví dụ sau: Hai hệ qui chiếu quán tính K và K’ với các trục tọa độ x, y, z và x’, y’, z’. Hệ K’ chuyển động thẳng đều với vận tốc V so với hệ K theo phương x. Từ một điểm A bất kì, trên trục x’ có đặt một bóng đèn phát tín hiệu sáng theo hai phía ngược nhau của trục x. Đối với hệ K’ bóng đèn là đứng yên vì nó cùng chuyển động với hệ K’. Trong hệ K’ các tín hiệu sáng sẽ tới các điểm B và C ở cách đều A cùng một lúc. Nhưng trong hệ K, điểm B chuyển động đến gặp tín hiệu sáng, còn điểm C chuyển động ra xa khỏi tín hiệu sáng, do đó trong hệ K tín hiệu sáng sẽ đến điểm B sớm hơn đến điểm C. Như vậy trong hệ K, các tín hiệu sáng tới điểm B và điểm C không đồng thời.

      Định luật cộng vận tốc, hệ quả của nguyên lí tương đối Galileo cũng không áp dụng được. Theo định luật này thì ánh sáng truyền đến B với vận tốc c +V > c, còn ánh sáng truyền đến C với vận tốc c -V < c. Điều này mâu thuẫn với nguyên lí thứ 2 trong thuyết tương đối Einstein.”
      Liệu định luật cộng vận tốc, hệ quả của nguyên lí tương đối Galileo cũng không áp dụng được? Hay các nhà vật lý đã áp dụng sai định luật này?
      Theo tôi: Các nhà vật lý trong hơn một thế kỷ qua đã áp dụng sai định luật cộng vận tốc. Thật vậy tôi xin chứng minh khẳng định trên. Theo đoạn trích trên chính đoạn lập luận sau sai.
      “Nhưng trong hệ K, điểm B chuyển động đến gặp tín hiệu sáng, còn điểm C chuyển động ra xa khỏi tín hiệu sáng, do đó trong hệ K tín hiệu sáng sẽ đến điểm B sớm hơn đến điểm C. Như vậy trong hệ K, các tín hiệu sáng tới điểm B và điểm C không đồng thời".
      Thật vậy:
      Áp dụng định luật cộng vận tốc: Trong hệ quy chiếu K tín hiệu ánh sáng truyền đến điểm O với vận tốc là (c-V) nhưng đồng thời điểm B lại chuyển động với vận tốc là V nên vận tốc ánh sáng so với điểm B là c-V+V=c; cũng trong hệ quy chiếu này ánh sáng truyền theo chiều Ox là c+V và đồng thời điểm C lại chuyển động cùng chiều theo phương Ox với vận tốc là V do đó vận tốc của ánh sáng so với điểm C vẫn là c+V-V = c. Từ đó dẫn đến kết luận đối với hệ quy chiếu K ánh sáng vẫn đến hai điểm B và C tại cùng một thời điểm. Từ đó đi đến kết luận thời gian có tính chất tuyệt đối, đối với mọi hệ quy chiếu quán tính.

      Tuy nhiên trong cách giải thích trên là đã bỏ qua tất cả mọi hiệu ứng chuyển động bề mặt trái đất dưới tác dụng của trường hấp dẫn.

      Giải thích yính tương đối của sự đồng thời
      Trích Wikipdia:
      "Bằng sự đồng bộ hóa với các tín hiệu ánh sáng, tính tương đối của sự đồng thời lần đầu tiên cũng được chỉ ra một cách đơn giản.[81] Daniel Frost Comstock (1910) đặt một quan sát viên ở giữa hai đồng hồ A và B. Từ quan sát viên này một tín hiệu được gửi đồng thời tới hai đồng hồ này, và trong hệ quy chiếu quán tính của cả A và B chúng bắt đầu chỉ thời gian. Nhưng khi quan sát viên bây giờ chuyển động về phía B, thì đồng hồ B chỉ thời gian trước do quãng đường tới B của ánh sáng lớn hơn so với tới A, do vậy các đồng hồ ở trong hệ quy chiếu của chúng là không đồng bộ với nhau. Tương tự, Einstein (1917) cũng nghĩ ra một mô hình với người quan sát ở giữa hai đồng hồ A và B. Tuy nhiên, ông miêu tả tín hiệu được truyền từ hai đồng hồ tới quan sát viên. Từ vị trí ở xa, trong đó A và B tại vị trí đứng im các tín hiệu được gửi đi một cách đồng thời và quan sát viên "đang tiến đến tia sáng từ đồng hồ B, và đang lùi ra xa so với đồng hồ A. Từ đó quan sát viên sẽ nhìn thấy tia sáng phát ra từ B sớm hơn tia sáng phát ra từ A. Những người ở trên tàu hỏa với hệ quy chiếu gắn với họ sẽ có kết luận là tia sáng từ B phát ra sớm hơn tia sáng từ A."

      Bây giờ xét đến ảnh hưởng của hiệu ứng hấp dẫn bề mặt:

      Nếu như có một đoàn tàu chuyển động, đặt đèn pin tại điểm A chiếu tia sáng đồng thời về hai phía, điểm C và điểm B gắn liền với đoàn tàu và cách đều với A. Đoàn tàu chuyển động theo hướng từ B đến C.
      Dù trong hệ quy chiếu đoàn tàu, hay hệ quy chiếu mặt đất thì ánh sáng đều chịu ảnh hưởng bởi trường hấp dẫn trái đất, và vận tốc ánh sáng lại không phụ thuộc vào sự chuyển động của nguồn phát, như thế vận tốc ánh sang về hai phia là như nhau. Chỉ còn điểm B và điểm C chuyển động nên tia sáng luôn đến điểm B trước điểm C do ánh sáng đi ngược chiều B còn đi cùng chiều với C.
      Thời gian tia sáng đến điểm B trước điểm C tính bằng công thức:

      Delta t = BC/(c^2-v^2)
      V: vận tốc chuyển động của đoàn tàu

      VIII-Tạm tính Kết quả tính toán độ lệch tia sáng khi đi qua bề mặt mặt trời

      Tính gần đúng nhiều lần thì phương trình quỹ đạo của tia sáng là

      y = 1/(2c^2 )gx2

      y’ = gx/c^2

      Nếu khoảng cách 2c tia sáng bắt đầu bị trường hấp dẫn mặt trời tác động thì x=2c nên:
      y’ = tg(α) = 2g/c

      Trong đó g là gia tốc trọng trường của mặt trời.

      g = hằng số hấp dẫn nhân khối lượng mặt trời / bán kính mặt trời bình phương
      = 6,67428.10-11.1,9891.1030 /(1,392.109/2)2
      = 274 kg.m/s2

      Vận tốc ánh sáng là c=3.108 m/s

      α=2.274/(3.108)=1,8266.10-6 (radian)
      = 105.10-4(độ)

      IX-Hệ quả hố đen

      Trong phương trình quỹ đạo tia sáng khi đi qua mặt trời với. Vật có khối lượng M rất lớn, bán kính rất nhỏ(lúc đó ta gọi vật như vậy là hố đen) giải phương trình quỹ đạo tia sáng ta được tia sáng khi đi gần hố đen chui tuột vào hố đen.

      Kết luận:

      - Tại những nơi có trường hấp dẫn lớn như trái đất, mặt trời, các hành tinh lớn… sẽ không quan sát được vận tốc tuyệt đối của ánh sáng, do hiệu ứng chuyển động bề mặt trái đất dưới tác dụng của lực hấp dẫn. Môi trường chất lỏng chuyển động đã góp phần làm thay đổi tốc độ ánh sáng như kết quả thí nghiệm Fizeau. Cũng giống như khi bề mặt trái đất chuyển động đã góp phần làm thay đổi ánh sáng trong thí nghiệm Michalson-Morley. Trường hợp thí nghiệm Fizeau thì quan sát được sự thay đổi đó, trường hợp thí nghiệm Michalson-Morley không quan sát được. Tuy nhiên vận tốc ánh sáng phụ thuộc vào hệ quy chiếu.

      - Vận tốc ánh sáng không được gia tốc bởi sự chuyển động của nguồn phát.

      - Công thức biến đổi Lorenzt và thuyết tương đối không thể đúng đồng thời

      - Nếu có một tàu vũ trụ chuyển động với vận tốc là 10000km/s ngược chiều với tia sáng thì vận tốc của tia sáng so với tàu là 310000km/s
      - Không phải không gian bị bẻ cong mà trường hấp dẫn cong
      - không phải vận tốc ánh sáng trong chân không là không đổi mà tại mặt đất không quan sát được

      --------------------------------------------------------------------------------
      Xem bài viết cùng chuyên mục:

      Sửa lần cuối bởi DAOTHANHOAI; 28-01-2012 lúc 14:08.

    2. #2
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      nhà của Papa và Maman
      Bài viết
      2,654
      Cảm ơn
      1,053
      Được cảm ơn 4,535 lần, trong 1,619 bài

      Mặc định Ðề: Kinh hoàng kỹ sư hệ thống điện Việt Nam đã chứng minh thuyết tương đối hẹp sụp đổ

      Cái này chém gió hay à nha.
      Nhóc thích xí xọn,
      Nhóc thích xì păm,
      Nhóc thích trêu các anh.
      Hi hi hi....

    3. Những thành viên đã cảm ơn cô Nhóc vì bài viết hữu ích:


    4. #3
      Tham gia
      14-06-2009
      Địa chỉ
      Hanoi University of Science and Technology
      Bài viết
      994
      Cảm ơn
      504
      Được cảm ơn 1,501 lần, trong 560 bài

      Mặc định Ðề: Kinh hoàng kỹ sư hệ thống điện Việt Nam đã chứng minh thuyết tương đối hẹp sụp đổ

      Thuyết tương đối toàn những thứ toán học cao cấp mà những cái thứ lý thuyết này toàn là toán sơ cấp của trẻ con. Thế mà cũng đòi "lật đổ". Hiểu lý thuyết của người ta qua mấy cuốn sách phổ biến khoa học thường thức (kiểu như Lược sử thời gian) và bằng cái thứ kiến thức toán học "chuyển vế đổi dấu" mà cũng đòi "lật đổ".


    5. #4
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      Cung trăng
      Bài viết
      2,497
      Cảm ơn
      1,184
      Được cảm ơn 3,914 lần, trong 1,469 bài

      Mặc định Ðề: Kinh hoàng kỹ sư hệ thống điện Việt Nam đã chứng minh thuyết tương đối hẹp sụp đổ

      Thế mới gọi là chém gió.

    6. #5
      Tham gia
      08-12-2010
      Bài viết
      71
      Cảm ơn
      25
      Được cảm ơn 22 lần, trong 19 bài

      Mặc định Ðề: Kinh hoàng kỹ sư hệ thống điện Việt Nam đã chứng minh thuyết tương đối hẹp sụp đổ

      Trích dẫn Gửi bởi baohuy_pla Xem bài viết
      Thuyết tương đối toàn những thứ toán học cao cấp mà những cái thứ lý thuyết này toàn là toán sơ cấp của trẻ con. Thế mà cũng đòi "lật đổ". Hiểu lý thuyết của người ta qua mấy cuốn sách phổ biến khoa học thường thức (kiểu như Lược sử thời gian) và bằng cái thứ kiến thức toán học "chuyển vế đổi dấu" mà cũng đòi "lật đổ".
      Không phải toán học cao cấp hay sơ cấp vấn đề là ý tưởng mới. Sự sai lầm luôn luôn phải ngụy biện bằng các lý thuyết trừu tượng và vô lý. Bạn hãy chỉ ra chỗ nào chưa đúng! Không phải bài viết không có giá trị mà cho vào góc chém gió mà vì không có chuyên đề của vật lý ở đây nên phải đưa vào góc chém gió.

      - Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

      - Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

      - Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

      - Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.

      - Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.

      - Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.

      - Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

      - Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

      - Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

      - Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

    7. #6
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      Cung trăng
      Bài viết
      2,497
      Cảm ơn
      1,184
      Được cảm ơn 3,914 lần, trong 1,469 bài

      Mặc định Ðề: Thuyết tương đối hẹp của einstein sụp đổ

      Muời một là: chớ vội tin vào điều gì, nếu điều đó được phát biểu quá huênh hoang và khoác lác.

    8. The Following 2 Users Say Thank You to quocthai For This Useful Post:


    9. #7
      Tham gia
      14-06-2009
      Địa chỉ
      Hanoi University of Science and Technology
      Bài viết
      994
      Cảm ơn
      504
      Được cảm ơn 1,501 lần, trong 560 bài

      Mặc định Ðề: Thuyết tương đối hẹp của einstein sụp đổ

      Trong Vật lý, đặc biệt là Vật lý lý thuyết, có thể có vô vàn "ý tưởng". Ngay bây giờ tôi có thể "phát minh" ra khoảng một chục ý tưởng để bác bỏ thuyết tương đối hẹp, tương đối rộng, lý thuyết dây, điện động lực học lượng tử, v.v.

      Nhưng chỉ có "ý tưởng" nào có cơ sở Toán học chặt chẽ thì mới được coi là có giá trị. Giá trị của nó sẽ được khẳng định mạnh hơn khi nó phù hợp với kết quả thực nghiệm trước đó và tiên đoán được những kết quả mới kiểm chứng được bằng thực nghiệm.

      Mười điều mà tác giả nói ở trên tất nhiên là đúng, nhưng nó không có nghĩa là ta tin tất cả những gì "mới".

      Cái cách viết bài trên diễn đàn rồi kêu gọi "phổ biến cho toàn thế giới" không phải là cách làm của giới khoa học, không có lý thuyết khoa học nào trên đời ra đời từ kiểu đó.

      Tác giả hãy viết nó bằng tiếng Anh (nếu không biết thì có thể nhờ một người học Vật lý biết tiếng Anh dịch hộ) thành một bài báo khoa học (scientific paper) và gửi nó đến một tạp chí ISI về Vật lý (chẳng hạn Annal of Physics hay Physics Letter Review). Nếu công trình của tác giả thực sự có giá trị, họ sẽ đăng, và lúc đó sẽ thực sự là một cuộc cách mạng. Các nhà khoa học hàng đầu sẽ xúm vào nghiên cứu, bổ sung, v.v. Con đường của khoa học hiện đại là như vậy. Từ Maxwell, Einstein cho đến các nhà khoa học ngày nay đều công bố công trình của mình bằng cách đó, chứ không phải cho lên diễn đàn rồi nhờ "copy cho toàn thế giới biết".


    10. #8
      Tham gia
      08-12-2010
      Bài viết
      71
      Cảm ơn
      25
      Được cảm ơn 22 lần, trong 19 bài

      Mặc định Ðề: Thuyết tương đối hẹp của einstein sụp đổ

      Trích dẫn Gửi bởi baohuy_pla Xem bài viết
      Trong Vật lý, đặc biệt là Vật lý lý thuyết, có thể có vô vàn "ý tưởng". Ngay bây giờ tôi có thể "phát minh" ra khoảng một chục ý tưởng để bác bỏ thuyết tương đối hẹp, tương đối rộng, lý thuyết dây, điện động lực học lượng tử, v.v.

      Nhưng chỉ có "ý tưởng" nào có cơ sở Toán học chặt chẽ thì mới được coi là có giá trị. Giá trị của nó sẽ được khẳng định mạnh hơn khi nó phù hợp với kết quả thực nghiệm trước đó và tiên đoán được những kết quả mới kiểm chứng được bằng thực nghiệm.

      Mười điều mà tác giả nói ở trên tất nhiên là đúng, nhưng nó không có nghĩa là ta tin tất cả những gì "mới".

      Cái cách viết bài trên diễn đàn rồi kêu gọi "phổ biến cho toàn thế giới" không phải là cách làm của giới khoa học, không có lý thuyết khoa học nào trên đời ra đời từ kiểu đó.

      Tác giả hãy viết nó bằng tiếng Anh (nếu không biết thì có thể nhờ một người học Vật lý biết tiếng Anh dịch hộ) thành một bài báo khoa học (scientific paper) và gửi nó đến một tạp chí ISI về Vật lý (chẳng hạn Annal of Physics hay Physics Letter Review). Nếu công trình của tác giả thực sự có giá trị, họ sẽ đăng, và lúc đó sẽ thực sự là một cuộc cách mạng. Các nhà khoa học hàng đầu sẽ xúm vào nghiên cứu, bổ sung, v.v. Con đường của khoa học hiện đại là như vậy. Từ Maxwell, Einstein cho đến các nhà khoa học ngày nay đều công bố công trình của mình bằng cách đó, chứ không phải cho lên diễn đàn rồi nhờ "copy cho toàn thế giới biết".
      Trích dẫn Gửi bởi Bảo Huy Xem bài viết
      Bảo Huy:
      Trong Vật lý, đặc biệt là Vật lý lý thuyết, có thể có vô vàn "ý tưởng". Ngay bây giờ tôi có thể "phát minh" ra khoảng một chục ý tưởng để bác bỏ thuyết tương đối hẹp, tương đối rộng, lý thuyết dây, điện động lực học lượng tử, v.v.

      Nhưng chỉ có "ý tưởng" nào có cơ sở Toán học chặt chẽ thì mới được coi là có giá trị. Giá trị của nó sẽ được khẳng định mạnh hơn khi nó phù hợp với kết quả thực nghiệm trước đó và tiên đoán được những kết quả mới kiểm chứng được bằng thực nghiệm.

      Mười điều mà tác giả nói ở trên tất nhiên là đúng, nhưng nó không có nghĩa là ta tin tất cả những gì "mới".

      Cái cách viết bài trên diễn đàn rồi kêu gọi "phổ biến cho toàn thế giới" không phải là cách làm của giới khoa học, không có lý thuyết khoa học nào trên đời ra đời từ kiểu đó.

      Tác giả hãy viết nó bằng tiếng Anh (nếu không biết thì có thể nhờ một người học Vật lý biết tiếng Anh dịch hộ) thành một bài báo khoa học (scientific paper) và gửi nó đến một tạp chí ISI về Vật lý (chẳng hạn Annal of Physics hay Physics Letter Review). Nếu công trình của tác giả thực sự có giá trị, họ sẽ đăng, và lúc đó sẽ thực sự là một cuộc cách mạng. Các nhà khoa học hàng đầu sẽ xúm vào nghiên cứu, bổ sung, v.v. Con đường của khoa học hiện đại là như vậy. Từ Maxwell, Einstein cho đến các nhà khoa học ngày nay đều công bố công trình của mình bằng cách đó, chứ không phải cho lên diễn đàn rồi nhờ "copy cho toàn thế giới biết".

      Thời đại khác nhau,hoàn cảnh khác nhau thì khác nhau.
      Ngày xưa dùng cuốc thuổng gậy gộc để đánh nhau ngày nay dùng súng tên lửa.
      Ngày xưa không có diễn đàn thì các ông làm khoa học không đưa lên diễn đàn.
      Ngày xưa không có mạng thì các ông làm khoa học không đưa lên internet.
      Tôi không phải làm chuyên môn về khoa học, tình cờ đọc sách vật lý đại cương củng cố lại kiến thức điện từ trường thì ý tưởng nảy ra.
      Bạn cứ nghĩ là đưa cho các ông làm khoa học các ông ấy đọc ngay à? ví dụ ngay bản thân bạn đã đọc hết chưa?
      Bao nhiêu bài viết của Abel bị Cô si nhổ toẹt vào.
      Phát minh điện trở của nhà vật lý ôm mấy trăm năm mới được thừa nhận.
      Thuyết nhận tâm bao nhiêu năm mọi người mới tin?
      Thuyết vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ mấy nghìn năm mọi người mới bác bỏ.
      Cũng như thế tôi đưa bài viết của tôi cho một ông tiến sĩ nào đó ông ấy sẽ vứt ngay vào sọt rác! Bởi vì họ sẽ không tin ngay từ đầu! Bởi thế tôi gửi nó nên diễn đàn may chăng có một vài người đọc và hiểu những gì tôi viết.
      Còn trả lời sau cùng của tôi trong diễn đàn vật lý đã thuyết phục được admin trong diễn đàn đó rồi.

      Nay tôi sẽ trình bày lại cho các bạn biết.

      Giả sử có một hệ pt chuyển đổi giữa không gian đứng yên và không gian chuyển động.
      x'=Ax+Bt
      t'=Cx+Dt
      TH1: Thay x=Vt;x'=0 vào hệ trên.
      TH2: Thay t=x/c; t'=x'/c vào hệ trên rút ra được hệ số lorenzt.
      Cách làm như thế là không được.

      Thậy vậy x=Vt có khác gì là t=x/v ; ở trên chấp nhận quan hệ t=x/v được một kết quả. Ở dưới lại chấp nhận quan hệ t=x/c cho vào kết quả ở trên điều đó có nghĩa là chấp nhận quan hệ logic sau: Và x=Vt và x'=0 và t=x/c và t'=x'/c trong một phương trình chuyển đổi. Điêu đó là không thể chấp nhận được.

      Hay nói cách khác: cách chứng minh trên chẳng khác gì.
      TH1: x=0
      TH2: x=1
      Vì 0=x và 1=x nên suy ra 0=1

      Trình bày đến đây các bạn không hiểu nữa thì chịu.

    11. #9
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      Cung trăng
      Bài viết
      2,497
      Cảm ơn
      1,184
      Được cảm ơn 3,914 lần, trong 1,469 bài

      Mặc định Ðề: Thuyết tương đối hẹp của einstein sụp đổ

      Chưa nói đến cách chứng minh bằng toán học. Chỉ xem xét ý tưởng, chúng ta hãy cùng phân tích ý tưởng:

      Hiệu ứng chuyển động bề mặt

      Hiệu ứng chuyển động bề mặt là hiệu ứng mà khi một vật chuyển động sẽ có xu hướng kéo các vật ở bề mặt chuyển động theo dưới tác dụng của lực(lực ma sát, lực hấp dẫn, lực điện từ…)

      Ở những nơi có trường hấp dẫn lớn vận tốc của phô tôn khi đi ngang qua bề mặt sẽ bằng vận tốc ban đầu cộng vận tốc bề mặt của vật chuyển động khi chuyển động cùng chiều hoặc bằng vận tốc ban đầu trừ đi vận tốc bề mặt khi chuyển động ngược chiều.
      Chỗ này rơi tõm xuống trở lại thuyết ê te cách đây cả trrăm năm, đã được chúng minh là sai lầm
      +++---o0o---+++
      Tiếp tục nhé, pác:

      II-Áp dụng ý tưởng về hiệu ứng chuyển động bề mặt giải thích thí nghiệm Michalson-Morley


      Thí nghiệm Michalson-Morley quan sát thấy vận tốc tương đối của ánh sáng là hằng số dù ánh sáng chuyển động cùng chiều hay ngược chiều quay của trái đất.

      - Phô tôn được coi là có khối lượng => nó phải chịu tác động bởi trường hấp dẫn.

      - Hình ảnh ánh sáng bẻ cong quan sát được khi nhật thực toàn phần là một minh chứng cho việc phô tôn bị trường hấp dẫn tác động.

      - Hạt phô tô chuyển động theo một xu hướng chuyển động ban đầu và có vận tốc là c=300000(km/s), khi đi qua bề mặt trái đất(hay những nơi có trường hấp dẫn đủ lớn) chịu sự hấp dẫn của bề mặt trái đất. Chuyển động của phô tôn sẽ chịu tác động bởi sự chuyển động của bề mặt trái đất thông qua trường hấp dẫn điều đó khiến cho khi quan sát từ trái đất vận tốc của phô tôn là như nhau. Trái đất quay theo chiều từ A đến B với vận tốc là V (km/s).

      1- Khi tia sáng chuyển động cùng chiều với chiều quay của trái đất, chuyển động của bề mặt trái đất thông qua trường hấp dẫn tác động nên các hạt phô tôn làm cho các hạt phô tôn cũng chuyển động nhanh hơn với vận tốc là V (km/s) vận tốc ánh sáng lúc này là c+V (km/s) nên trong trường hợp này vận tốc ánh sáng quan sát được vẫn là c (vì người quan sát chuyển động cùng chiều với chiều truyền ánh sáng)

      2- Ngược lại tia sáng chuyển động với chiều ngược lại với chiều quay của trái đất, chuyển động của bề mặt trái đất thông qua trường hấp dẫn tác động nên các hạt phô tôn làm cho các hạt phô tôn cũng chuyển động chập hơn với vận tốc là V, vận tốc tuyệt đối của ánh sáng lúc này là c-V nên khi quan sát trong trường hợp này vận tốc ánh sáng vẫn là c (vì người quan sát chuyển động ngược chiều với chiều truyền ánh sáng). Cách giải thích trên hoàn toàn phù hợp với kết quả thí nghiệm Michalson-Morley.

      Việc không quan sát được vận tốc tuyệt đối của ánh sáng giống việc từ mặt đất không quan sát được vận tốc tuyệt đối của viên đạn khi viên đạn bắn ra từ một khẩu súng trên mặt đất đi theo chiều quay hay đi ngược chiều quay trái đất. Hay việc một máy bay, nếu để cùng một công suất đẩy thì dù bay ngược chiều hay cùng chiều với chiều quay của trái đất nếu quan sát từ mặt đất thì vận tốc là như nhau. Nhưng nếu quan sát từ một vị trí bên ngoài trái đất không phụ thuộc vào trái đất sẽ cho kết quả là viên đạn hay máy bay chuyển động cùng chiều sẽ có vận tốc nhanh hơn so với viên đạn, máy bay chuyển động ngược chiều.
      Mới nghe thì có vẻ hợp lý. Nhưng nếu thế thì tia sáng đi ngang qua mặt trời hoặc một hành tinh tự quay sẽ phải có 2 hoặc nhiều vận tốc khác nhau, tùy theo nó đi qua phía bên này hay bên kia của mặt trời. Thế nhưng người ta vẫn đo được là một hằng số? vì sao?

    12. #10
      Tham gia
      30-05-2008
      Địa chỉ
      Cung trăng
      Bài viết
      2,497
      Cảm ơn
      1,184
      Được cảm ơn 3,914 lần, trong 1,469 bài

      Mặc định Ðề: Thuyết tương đối hẹp của einstein sụp đổ

      III-Giải thích thí nghiệm Sitter về quan sát hệ sao đôi


      Năm 1913 de Sitter đã bác bỏ phép cộng vận tốc Galileo đối với ánh sáng trên cơ sở quan sát chuyển động của các ngôi sao đôi. Tức là Sitter quan sát và thấy được vận tốc ánh sáng không phụ thuộc vào sự chuyển động của nguồn phát sáng.
      Giải thích thí nghiệm Sitter về quan sát hệ sao đôi

      Tiên đề - Vận tốc ánh sáng không được gia tốc bởi sự chuyển động của nguồn phát sáng


      Căn cứ đưa ra tiên đề:
      - Khi vừa được sinh ra phô tôn đã chuyển động rất nhanh nên không có nguồn phát sáng nào nhanh bằng để đuổi kịp và tương tác lực(do ảnh hưởng của chuyển động) làm gia thêm tốc độ chuyển động cho nó, hoặc hạn chế tốc độ của nó. Sự chuyển động rất nhanh của phô tôn đó tạo ra một lớp đệm khiến cho sự chuyển động của nguồn không thể gia tốc hay hãm tốc các hạt phô tôn.
      - Lý do thứ hai là giả sử nếu như vì sự chuyển động của nguồn phát dẫn đến sự va chạm của nguồn phát vào các hạt phô tôn vừa được sinh ra. Như vậy hạt phô tôn này lập tức biến đổi năng lượng của nó thành nhiệt năng, chỉ có hạt phô tôn không bị sự va chạm do chuyển động của nguồn mới bay đi tạo thành tia sáng.

      Áp dụng trực tiếp tiên đề: Vận tốc ánh sáng không được gia tốc bởi sự chuyển động của nguồn phát sáng. Vì không tác dụng được lực do chuyển động tác động lên phô tôn (do phô tôn rất nhỏ và có vận tốc rất nhanh) nên việc ông sao có chuyển động lại gần hay ra xa cũng không hưởng gì đến vận tốc ánh sáng. Vận tốc ánh sáng vẫn là c=3.10^8 m/s.

      Giải thích thêm

      Hầu hết mọi người vận ngộ nhận rằng vật chủ chuyển động thì các vật trên nó phải chuyển động theo với vận tốc tương ứng. Nhưng trường hợp sau chỉ ra không phải như vậy.
      - ông sao chuyển động không làm cho vận tốc của ánh sáng tăng nên không có nghĩa là vận tốc của ánh sáng với vì sao đó là hằng số!

      1- Ví dụ người đứng trên đoàn tàu, giữa người và đoàn tàu không có ma sát, người được gia tốc với vận tốc ban đầu là V. Anh hưởng lôi kéo chuyển động dưới tác dụng hấp dẫn của người và đoàn tàu là gần như bằng không(để không gây ra hiệu ứng chuyển động).

      2- Rõ ràng là khi tàu chuyển động nhanh hay chậm thì cũng không gia tốc cho người đó.

      3- Nhưng vận tốc của người đó và tàu rõ ràng là không phải bằng hằng số. vẫn tuân theo công thức cộng vận tốc Galile. Vận tốc của người so với điểm mốc đứng yên bên ngoài là V; vận tốc đoàn tàu so với điểm mốc đó là U. Thì vận tốc người đó so với tàu vẫn là V+U
      Ví dụ trên không vi phạm công thức Galile, không vi phạm kết quả thí nghiệm của Sitter, tiên đề 2 của einstein hoàn toàn sai.

      Tiên đề 2 có hai ý:

      - ý thứ nhất là vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn(nếu so với một mốc đứng yên tuyệt đối thì mình không có ý kiến gì).

      - ý thứ hai là vận tốc này không phụ thuộc vào hệ quy chiếu điều này mình bác bỏ thông qua hai cách giải thích về thì nghiệm của Michalson-Morley và sitter ở trên
      Ở đây tác giả có một số nhầm lẫn.

      1. Đối với cơ học tương đối tính cổ điển, thì vật chuyển động không gia tốc thêm cho vật bắn từ nó ra. Nó chỉ cung cấp một vận tốc ban đầu bằng đúng vận tốc của nó. Còn gia tốc để đẩy vật đó ra lại không tùy thuộc vận tốc.

      2. Như vậy theo cơ học tương đối tính, thì vật chuyển động sẽ cộng vận tốc, chứ không cộng gia tốc.

      3. Với những bài toán chuyển động với vận tốc rất bé so với vận tốc ánh sáng, thì cơ học tương đối tính cổ điển vẫn xem như luôn đúng. Không thể đem lý luận về con người trên đoàn tàu chuyển động để so sánh với ánh sáng được. Nếu muốn so thì phải so ánh sáng của người trên tàu phát ra và ánh sáng của người dưới đất nhận được.

      4. Với thuyết giãn nở vũ trụ, thì các ngôi sao ở rất xa chúng ta có tốc độ di chuyển ra khỏi chúng ta rất lớn Nhưng tốc độ chúng ta đo được vẫn không phải là thấp hơn so với những ngôi sao ở gần. Nhưng tốc độ di chuyển vẫn tính được do hiệu ứng doppler, sự dịch chuyển đỏ của quang phổ vạch của những nguyên tố cơ bản trong vũ trụ.
      +++---o0o---+++
      Như vậy qua 3 điểm đầu tiên mà tác giả phân tích, chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề như sau:

      1. Tác giả quan tâm đến thuyết tương đối, nhưng tác giả chưa quan tâm nhiều đến những lý luận trước khi thuyết tương đối ra đời. Cụ thể là thuyết ê te.

      2. Vì chưa quan tâm đến những lý luận đó, nên tác giả không thấy được những hạn chế của thuyết ê te. Từ đó những lý luận của tác giả lại rơi vào sự bế tắc của thuyết ê te.

      3. Vì không quan tâm đến thuyết ê te, nên những cách lý luận của thuyết tương đối bác bỏ thuyết ê te như thế nào đã không được tác giả quan tâm. do đó tác giả hiểu về thuyết tương đối chưa được cụ thể lắm.

      4. Tóm lại, cái kinh hoàng của tác giả, cái tâm đắc nhất của tác giả chính là lập lại cái sai lầm của hàng trăm năm trước.

      Hôm nay tạm vậy đã. Ngày mai sẽ phân tích tiếp. Mà cũng chưa chắc. Mới đọc bây nhiêu đó đã thấy chán chẳng muốn đọc tiếp nữa rồi, phân tích gì nổi?

    Trang 1 của 6 1234 ... CuốiCuối

    Trả lời với tài khoản Facebook

    Các Chủ đề tương tự

    1. Giáo trình lý thuyết mạch cho ngành Điện
      Bởi sobavu trong diễn đàn Các môn học cơ sở cho ngành điện
      Trả lời: 5
      Bài cuối: 13-02-2013, 12:54
    2. Tài liệu Lý thuyết mạch
      Bởi thang KS trong diễn đàn Các tài liệu điện khác...
      Trả lời: 0
      Bài cuối: 21-06-2012, 16:42
    3. tài liệu lý thuyết mạch
      Bởi i'myour trong diễn đàn Các môn học cơ sở cho ngành điện
      Trả lời: 0
      Bài cuối: 16-06-2012, 09:42
    4. ai có tài liệu Lý Thuyết Mạch up giùm em với nào
      Bởi thanghtd2 trong diễn đàn Các môn học cơ sở cho ngành điện
      Trả lời: 3
      Bài cuối: 24-05-2012, 20:44
    5. Trợ giúp - lý thuyết ĐTCS
      Bởi gaga trong diễn đàn Điện tử công suất
      Trả lời: 6
      Bài cuối: 15-05-2012, 00:38

    Tag của Chủ đề này

    Văn Võ Trạng Nguyên
    Hắc Hiệp Đại Chiến Thánh Bài 2
    Đặc Cảnh Diệt Ma
    Khử Ma Đạo Trưởng
    Cương Thi Diệt Tà
    Sự Hình Thành Của Đế Chế Mông Cổ
    NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐÁNG NHỚ CỦA GIẢI GOLF PHÚ MỸ HƯNG 2016