• Webdien.com - Cầu nối dân điện


    1. [HOT] - Webdien đang tuyển các vị trí quản lý cao cấp

      ntech.com.vn

  • Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
    Kết quả 1 đến 10 của 20
    1. #1
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ?

      Có nên giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ hay không?

      Trong cơ chế thị trường, điện cũng như các sản phẩm khác, hạ giá thành là việc vô cùng quan trọng. Nếu thấy nhân tố nào có thể giúp cho việc hạ giá thành sản phẩm, ta nên tận dụng triệt để. Trong bài: “Điện sóng biển, nguồn điện vô cùng to lớn” đã đăng trên trang web ta thấy diện tích mặt bằng của mỗi phao có thể tới vài trăm m2. Các phao đều ở gần bờ biển và đều phải đổ nước biển vào cho nặng thêm. Đây là nơi rất mát mẻ, phong cảnh rất đẹp, không khí rất trong lành. Rất nhiều người chưa bao giờ được biết đến cảm giác bồng bềnh trên sóng biển. Tại sao ở những nơi có điều kiện để thu hút khách hàng, ta không tận dụng mặt bằng của một số phao ở ngay gần bờ để sử dụng cho các dịch vụ như ăn uống, nghỉ mát, vui chơi giải trí,…ở nơi bồng bềnh trên sóng biển nhằm tăng thêm những nguồn thu rất lớn và hạ giá thành phát điện?
      Dịch vụ có những yêu cầu riêng của nó. Vì vậy ta có thể sửa lại một số phao và phải nghĩ trước đến các rủi ro có thể gặp phải để có biện pháp đề phòng.
      Trong bài đã đăng trên trang web, phao có cột bê tông cao ở giữa để liên kết với khung thép phía trên và phao không cần thiết phải cao lắm để hạn chế những lực tác động rất lớn khi biển động hoặc khi có sóng thần. Muốn tận dụng mặt bằng của phao để làm dịch vụ, đầu tiên ta phải nghĩ đến chuyện an toàn, phải làm sao cho phao không thể nào bị chìm. Phao đã nặng vì phần trên của nó đã có các công trình dịch vụ rồi, nên không cần phải đổ thêm nước biển vào. Nhưng phao cần được chứa đầy những khối sốp lớn, rồi được xây kín lại để đề phòng hỏa hoạn. Như vậy, dù phao có bị nứt nẻ, sứt mẻ,…nước biển cũng không thể tràn vào trong phao được và không hề ảnh hưởng gì đến độ nổi của phao. Phao phải khá cao để dù sóng biển có rất lớn cũng không thể làm ướt mặt phao. Cột bê tông cao ngay chính giữa phao, cần được tận dụng trong việc xây dựng. Nếu thấy trông nó không đẹp mắt thì nên tách thành 2 cột bê tông ở hai bên và phía trên chúng được nối với nhau bằng 1 thanh bê tông cốt thép. Chính giữa thanh bê tông cốt thép này sẽ liên kết với khung thép phía trên. Nhưng các trụ bê tông này cần cao hơn nhiều và 2 thanh thép đường ray trong mỗi khe thẳng đứng cũng phải dài hơn nhiều để đề phòng sóng thần. Hai phao cạnh nhau rất gần nhau, vì thế nên có cầu phao nối chúng với nhau để khách hàng có thể dễ dàng đi từ phao này sang phao khác. Việc nâng lên, hạ xuống của hai phao cạnh nhau có thể rất khác nhau. Vì vậy cầu phao nối 2 phao cần được làm rất chắc chắn và tuyệt đối không được để đứt cầu phao, rất nguy hiểm cho khách hàng. Các phao đều ở gần bờ và sóng biển ở đây không còn lớn như ở phía ngoài, nên có nhiều cầu phao nối với bờ để việc đi lại được dễ dàng hơn và khi cần khách hàng có thể chạy nhanh lên bờ.
      Khu dịch vụ nên làm xa khu vực trên bờ của nhà máy điện vì trong đó có nhiều bình chứa khí nén lớn. Nên chọn nơi có phao gần bờ để cầu phao nối với bờ được ngắn hơn. Khu này cũng nên làm ở nơi có đồi thoai thoải ở trên bờ để trong trường hợp có báo động sóng thần, khách từ trên phao chạy lên bờ có thể leo ngay lên đồi để lánh nạn.
      Nhà máy điện chạy bằng năng lượng sóng biển hiện nay mới chỉ là những ý tưởng được nêu ra, còn phải bàn luận nhiều. Sau đó còn phải làm thí điểm để xem xét lại những ý tưởng đó có đúng hay không, rồi mới triển khai dần từng bước cho vững chắc. Trong khi chờ đợi, theo tôi có thể làm dịch vụ kết hợp với việc sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện như sau:
      Ngay gần những nơi đông khách tắm biển có thể làm một số phao bê tông lớn và không bao giờ có thể chìm được ở ngay cạnh nhau như đã nói ở phần trên. Những phao này cần được làm ở ngay gần bờ và các cầu phao cũng cần được làm cho chắc chắn. Mỗi phao có 2 trụ bê tông ở hai bên. Trên đỉnh mỗi trụ bê tông có 1 bộ phận chuyển lực để chuyển những chuyển động tròn quay đi, quay lại thành chuyển động quay tròn theo một chiều nhất định. Ta chỉ làm với quy mô nhỏ vì vậy không dùng các bộ phận nén khí và các bình chứa khí nén. Vì thế lực quay đó được dùng để chạy máy phát điện một chiều ở ngay cạnh đó. Điện được nạp vào ác quy rồi biến thành dòng điện xoay chiều để phục vụ cho công trình dịch vụ. Việc này cũng tương tự như người ta đã làm với điện gió.
      Nếu muốn có mặt bằng rộng hơn, ta có thể làm phao to hơn và ở 4 góc có 4 trụ bê tông tương tự như các trụ bê tông đã nói trên. Để phao có thể dễ dàng nghiêng đi, nghiêng lại theo nhịp sóng, 2 cột bê tông ở giữa phao chỉ nên cao khoảng 4 m, tức chỉ cao hơn mái của công trình dịch vụ và trên đỉnh của chúng có khớp nối với đoạn cột bê tông còn lại ở phía trên. Nên thay thế đoạn cột bê tông này bằng đoạn khung thép dọc. Gần đỉnh của 2 cột bê tông cần được nối với nhau bằng thanh bê tông cho chắc chắn. Trên đỉnh của mỗi cột bê tông nên gắn 1 cung tròn lớn bằng thép dày. Cung tròn này có tâm là chỗ khớp nối và có răng để truyền lực. Khi phao nghiêng đi, nghiêng lại theo nhịp sóng, cung tròn lớn bằng thép cũng sẽ quay đi quay lại so với đoạn khung thép dọc ở phía trên. Lực quay này rất lớn, vì vậy ta nên gắn thêm 1 phần chuyển lực vào ngay đoạn khung thép dọc ở phía trên để nhận lực đó và chuyển thành lực quay tròn theo một chiều nhất định. Lực quay này cũng được dùng để chạy máy phát điện một chiều được gắn ngay vào đoạn khung thép dọc đó. Điện được chuyển về ác quy rồi lại được biến thành dòng điện xoay chiều.
      Như vậy nguồn điện phát sinh để phục vụ cho công trình dịch vụ cũng khá lớn, nếu thừa sẽ cung cấp cho các công trình khác.
      Tuy chỉ làm ở nơi sóng không lớn lắm và với mục đích phục vụ dịch vụ là chủ yếu, nhưng nó cũng có thể có những cái lợi sau:
      - Nhà đầu tư không phải bỏ ra rất nhiều tiền để mua đất xây dựng các công trình dịch vụ.
      - Thu hút được sự hiếu kỳ của khách, nhất là đối với khách quốc tế và khả năng thu hồi vốn sẽ nhanh.
      - Không mất tiền mua điện và còn có khả năng bán điện cho một số nơi ở gần đó.
      - Qua đó có thể đánh giá được một phần khả năng sử dụng năng lượng sóng biển để chạy máy phát điện.
      Trong trường hợp có sóng thần lớn xảy ra, mọi dịch vụ ven biển cũng như những người sống ven biển đều rất nguy hiểm. Ngay cả những thành phố, những làng xóm ven biển cũng phải chịu chung số phận. Sóng thần lớn ở nước ta gần như không có. Nhưng ta cũng nên đề phòng trước để đảm bảo an toàn cho khách hàng và khách hàng sẽ yên tâm hơn khi đến hưởng thụ dịch vụ ở đây.
      Trên đây là một số suy nghĩ của tôi. Những người quan tâm đến vấn đề này sẽ có nhiều cách làm hay hơn.

      --------------------------------------------------------------------------------
      Xem bài viết cùng chuyên mục:

      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 13-10-2011 lúc 19:13. Lý do: Bổ sung thêm
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    2. The Following 3 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    3. #2
      Tham gia
      02-08-2011
      Bài viết
      4
      Cảm ơn
      1
      Được cảm ơn 5 lần, trong 4 bài

      Mặc định Ðề: Giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ?

      Các dịch vụ như ăn uống, nghỉ mát, vui chơi giải trí,… đều đông người. Tại sao không thay các bánh xe thép bằng các bánh xe bọc cao su cho đỡ ồn?

    4. Những thành viên đã cảm ơn dangthanhcong vì bài viết hữu ích:


    5. #3
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ?

      Rất cám ơn bạn dangthanhcong. Đúng là cần làm như vậy. Muốn giảm bớt tiếng ồn ta có thể thay những bánh xe thép chạy trên những thanh thép đường ray tàu hỏa bằng những bánh xe bọc cao su để chạy cho êm. Nhưng những thanh thép đường ray tàu hỏa đó cần được thay bằng những thanh thép chữ U lớn để những bánh xe bọc cao su chạy trong lòng các chữ U lớn đó.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    6. #4
      Tham gia
      12-10-2011
      Bài viết
      23
      Cảm ơn
      11
      Được cảm ơn 12 lần, trong 9 bài

      Mặc định Ðề: Giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ?

      Bác canlevinh đã liên tiếp đưa ra nhưng ý tưởng hết sức táo bạo. Mong rằng những công trình vĩ đại đó sẽ đi dần đến hiện thực trong tương lai gần nhất và chính nó cũng được thực hiện trên chính đất nước Việt nam chúng ta. Chúc bác tiến xa hơn nữa!

    7. Những thành viên đã cảm ơn Hỏi tới bến vì bài viết hữu ích:


    8. #5
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Giảm giá thành điện sóng biển bằng dịch vụ?

      Rất cám ơn bạn Hỏi tới bến. Tôi rất mong rằng các bạn trẻ sẽ giúp tôi để biến những ước mơ đó trở thành hiện thực.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    9. #6
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Điện sóng biển đắt hay rẻ và có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?

      Trong cơ chế thị trường, điện sóng biển muốn tồn tại và phát triển phải có giá thành tương đối rẻ và cạnh tranh được với các nguồn điện khác. Phần dưới biển của điện sóng biển có rất nhiều cột thép và phao thép, vậy nó có tác động tốt hay xấu đến môi trường biển? Đó là những vấn đề ta cần phải suy nghĩ.
      1. Vốn đầu tư và giá thành của điện sóng biển:
      Vốn đầu tư và giá thành của điện sóng biển nên để các nhà đầu tư tính toán cho chính xác. Muốn vậy cần làm rõ nội dung từng vấn đề cụ thể để các nhà đầu tư tính toán. Các vấn đề như bơm nén khí, đường ống dẫn khí nén, bình chứa khí nén, thùng khí vào, thùng khí ra, các tổ máy phát điện,... các nhà đầu tư có thể có nhiều thông tin để đặt hàng, mua hàng và lắp đặt. Bộ phận giữ phao, phần chuyển lực tôi đã mô tả khá kỹ trong bài rồi. Chỉ còn lại 2 vấn đề cần nêu rõ những suy nghĩ cụ thể của người đề xuất để các nhà đầu tư có thể hình dung được các vấn đề này và có thể tạm ước lượng được vốn đầu tư cao hay thấp. 2 vấn đề đó là:
      - Khung thép như thế nào, cách đưa xuống biển ra sao?
      - Toàn bộ năng lượng của điện sóng biển là do phao tạo ra. Vậy phao sẽ dày, mỏng, nặng nhẹ ra sao?
      1.1. Khung thép:
      Nhìn các cây cầu lớn bắc ngang qua sông, tôi thấy các trụ cầu đều cách xa nhau. Rất tiếc rằng tôi không tính được khung thép theo cách này. Nếu tính được, có lẽ khối lượng thép sẽ rất lớn, vốn đầu tư sẽ rất cao. Nên tôi có suy nghĩ về khung thép có rất nhiều cột chống và cách lắp đặt chúng ở dưới biển sâu sẽ trình bày dưới đây để các nhà đầu tư tham khảo. Nếu nhà đầu tư có được cách làm khung thép vững chắc hơn, sử dụng được lâu dài hơn và rẻ tiền hơn thì họ nên dùng cách đó. Suy nghĩ của tôi về khung thép như sau:
      Do các thanh thép hình bán trên thị trường thường có chiều dài 12 m, nên tôi tính cho phao có đường kính 6 m. Khi tính toán biểu, tôi tính 8.200 phao gồm 20 hàng phao và mỗi hàng có 410 phao, được xếp theo khối hình chữ nhật với chiều dài 4.920 m và chiều rộng 203 m. Nhưng do các phao được xếp lệch nhau để tạo thành các tam giác đều, nên chiều rộng của hình chữ nhật đó lại là đường răng cưa không phải là đường thẳng. Khi tính toán khung thép cần sửa lại một chút cho hình đó cân đối hơn, cụ thể sẽ là hình lục giác dẹt có các góc đều bằng 120 độ. Muốn hình này cân đối, số hàng phao phải là số lẻ. Vì vậy tôi lấy số hàng phao là 19 và số lượng phao trong hàng là 428, 429,...436, 437, 436,...429,428. Tổng cộng số lượng phao là 8.213, tăng thêm 13 phao và hình lục giác dẹt đó có chiều rộng là 193 m, chiều dài từ 5.130 m đến 5.244 m, diện tích là 1.012.414 m2.
      Trong mỗi hàng, các cột chống nằm hai bên phao nên số cột chống phải tăng thêm 1. Như vậy tổng số cột chống sẽ là: 8.213 + 19 = 8.232 cột.
      Số thanh thép vừa để liên kết các cột chống, vừa để gắn bộ phận giữ phao và các bộ phận khác như phần chuyển lực, bơm nén khí sẽ bằng số lượng phao và bằng 8.213 thanh.
      Mỗi cột chống có 6 thanh liên kết phía trên, trong đó loại vừa liên kết, vừa gắn bộ phận giữ phao và các bộ phận khác có 2 thanh ở hai bên, còn lại 4 thanh chỉ làm nhiệm vụ liên kết. Riêng cột chống ở hàng phao ngoài chỉ có 2 thanh chỉ làm nhiệm vụ liên kết. Mỗi thanh liên kết chỉ nên tính một lần thôi và hàng cột chống giữa không tính thanh chỉ làm nhiệm vụ liên kết vì các thanh này đã được tính cho 2 hàng cột chống ở hai bên rồi. Vì vậy số thanh thép chỉ làm nhiệm vụ liên kết là: (8.232 – 437) x 2 = 15.590 thanh.
      Để khung thép được vững chắc, cần có thêm những thanh liên kết ở phía dưới và cách những thanh liên kết phía trên khoảng 12 m. Phao luôn luôn nâng lên hạ xuống, nên mỗi cột chống chỉ có thêm 4 thanh chỉ làm nhiệm vụ liên kết phía dưới thôi, những thanh thép này sẽ tạo thành các hình thoi và chúng cũng có số lượng là 15.590 thanh.
      Khi đã có thanh liên kết ở phía dưới, sẽ nảy sinh ra vấn đề là có thể vì một lý do nào đó phao có thể hạ xuống ở phía ngoài hình thoi. Để đề phòng trường hợp đó, cứ mỗi cặp thanh liên kết cần gắn thêm 2 thanh thép thẳng đứng bảo vệ không cho phao ra ngoài hình thoi. Số lượng các thanh thép bảo vệ sẽ là: 15.590 x 2 = 31.180 thanh. Có thêm các thanh thép này, khung thép lại càng vững chắc hơn.
      Bây giờ chỉ còn vấn đề là nên dùng loại thép gì để khung thép được ổn định, vững chắc lâu dài, nước biển khó ăn mòn đồng thời tiết kiệm được vốn đầu tư. Phần này xin nhờ các chuyên gia thiết kế cầu, các chuyên gia thiết kế các công trình biển của các ngành giao thông, dầu khí và quốc phòng giúp đỡ và tính toán cho chính xác. Nhưng để các bạn dễ hình dung được vấn đề và có thể thấy được khối lượng thép phải sử dụng rất lớn, tôi chỉ mở mạng xem các loại thép và chọn thép theo cảm tính. Rất mong các chuyên gia thiết kế kiểm tra lại giúp và chọn lại giúp loại thép cho tốt hơn.
      Theo tôi cột chống có thể dùng loại thép ống đúc đường kính 219,1 mm, dày 12,7 mm, dài 12 m và có trọng lượng mỗi mét là 64,64 kg. Khi xem ống nhựa bày bán trên thị trường, ta thấy một đầu ống to ra một chút để có thể nối dài ống. Nếu ống thép cũng như vậy, ta có thể nối 3 ống thép dài 12 m thành 1 cột chống dài gần 36 m và có trọng lượng là: 36 x 64,64 = 2.327,04 kg. Đoạn ống thép thứ hai cần quét các vạch sơn để sau khi thả xuống biển, nhìn vào đó ta có thể biết ngay cột chống đã ngập sâu trong nước biển bao nhiêu. Để cột thép có thể dễ dàng cắm sâu xuống đáy biển đến một mức độ nào đó rồi dừng lại, ta có thể đúc thêm đinh mũ lớn bằng thép rồi hàn vào đáy cột thép. Thí dụ như đinh là hình nón dài 2 m, đường kính đáy hình nón 0,1 m, mũ của đinh là hình hộp tròn cao 0,05 m, đường kính 1 m và phần đút vào cột chống dài 0,05 m, sẽ có trọng lượng là 358,44 kg. Trên đỉnh cột chống cũng cần có thêm 1 mũ thép có đỉnh chóp mũ hơi thuôn lại để dễ lồng các thanh thép liên kết vào. Nếu chóp mũ cao 0,6 m, đường kính 0,1 m, đường kính vành mũ bằng đường kính ống thép, dày 0,02 m và phần đút vào cột chống dài 0,05 m, sẽ có trọng lượng là 57,91 kg. Như vậy tổng trọng lượng của mỗi cột thép sẽ là: 2.327,04 + 358,44 + 57,91 = 2.743,39 kg. Tổng trọng lượng của 8.232 cột thép sẽ là: 2.743,39 x 8.232 = 22.583.551,43 kg = 22.583,55 tấn.
      Để các thanh thép liên kết phía trên không đọng nước mưa, ta có thể dùng thép chữ U và úp mặt xuống. Thanh thép vừa liên kết, vừa giữ phao và các bộ phận khác nên dùng thép loại to, thí dụ như thép chữ U 300 x 90 dày 13 mm, trọng lượng 41,2 kg/m. Tổng trọng lượng các thanh thép vừa liên kết, vừa giữ phao và các bộ phận khác là: 12 x 8.213 x 41,2 = 4.060.507,20 kg = 4.060,51 tấn.
      Thanh thép chỉ làm nhiệm vụ liên kết có thể dùng loại thép nhỏ hơn, thí dụ như thép chữ U 250 x 90 dày 13 mm, trọng lượng 34,6 kg/m. Tổng trọng lượng các thanh thép chỉ làm nhiệm vụ liên kết là: 12 x 15.590 x 34,6 = 6.472.968 kg = 6.472,97 tấn.
      Các thanh liên kết phía dưới chỉ gắn vào các cột chống, nên có thể dùng loại thép chữ I, thí dụ như thép chữ I 300 x 150 x 6,5 x 9, trọng lượng 36,7 kg/m. Tổng trọng lượng các thanh liên kết phía dưới là: 12 x 15.590 x 36,7 = 6.865.836 kg = 6.865,84 tấn.
      Các thanh thép bảo vệ có thể dùng loại nhỏ hơn, thí dụ như thép chữ I 200 x 100 x 5,5 x 8, trọng lượng 21,3 kg/m. Tổng trọng lượng các thanh thép bảo vệ là: 12 x 31.180 x 21,3 = 7.969.608 kg = 7.969,61 tấn.
      Như vậy tổng trọng lượng khung sẽ là 47.952,47 tấn.
      Tôi cũng suy nghĩ về cách lắp đặt khung thép ở dưới biển sâu khoảng gần 20 m như sau:
      Nên chọn nơi đáy biển tương đối bằng phẳng và không có đá ngầm để lắp đặt khung thép. Với chiều dài trên 5,2 km và rộng gần 0,2 km, độ sâu của đáy biển không thể bằng nhau vì vậy độ dài của các cột thép cũng khác nhau.
      Trong cột thép, các chỗ nối và đinh mũ lớn cần được hàn kín để nước biển không thể vào được bên trong. Như vậy nước biển không thể ăn mòn cột thép từ bên trong.
      Ở 2 đầu của các thanh liên kết phía trên bằng thép chữ U, cần đục lỗ tròn rộng hơn 10 cm một chút và tâm của nó cách đầu thanh thép 15 cm để có thể lồng dễ dàng vào các mũ thép rộng 10 cm ở đỉnh của các cột thép. Như vậy khoảng cách giữa tâm của các cột thép sẽ chỉ còn 11,7 m và diện tích của hình lục giác dẹt trên biển chỉ còn khoảng gần 1 km2.
      Để khoảng cách giữa tâm của các cột thép là 11,7 m, cần có thêm hàng trăm các thanh thép có kẹp ở 2 đầu để tạm thời cố định một số cột thép gần nhau. Các thanh thép này nên làm để có thể điều chỉnh cho dài ra hoăc ngắn lại một chút.
      Cần chọn thời gian biển có sóng nhỏ, dùng sà lan tự hành có chiều rộng dưới 9,5 m, dài trên 45 m và trong sà lan có 2 cần trục để vận chuyển các cột thép, các thanh liên kết phía trên và các thanh thép có kẹp ở 2 đầu đến nơi cần dựng khung thép. Sà lan cần dắt theo phao lớn, phía trên phao có gắn thang để công nhân có thể trèo lên đó cặp các kẹp ở 2 đầu của các thanh thép. Trước khi thả cột thép xuống biển cần thả thước đo xuống biển để đo độ sâu, sau đó mới chọn cột thép thích hợp thả xuống chỗ đó, đinh mũ ở phía dưới cột thép sẽ cắm xuống đất ở đáy biển. Giữ cho cột thép thẳng đứng rồi thả cột thép thứ hai cho tâm của 2 cột thép cách nhau 11,7 m và dùng thanh thép có kẹp ở 2 đầu để giữ khoảng cách đó. Phía bên kia của sà lan, thả thêm cột thép thứ ba cho tâm của 3 cột thép đều cách nhau 11,7 m, sau đó dùng 2 thanh thép có kẹp ở 2 đầu để nối cột thép thứ ba với 2 cột trước. Khi đó 3 cột chống này đã có thể dựa vào nhau mà đứng. Sau đó tiếp tục thả các cột thép khác để tâm của chúng đều cách nhau 11,7 m và dùng các thanh thép có kẹp ở 2 đầu để tạm thời cố định chúng. Sau khi đã dùng hết các thanh thép có kẹp ở 2 đầu và phần khung thép đó đã đứng vững, các cột thép đã đứng thẳng và đỉnh của chúng đã tương đối cao bằng nhau, ta dùng 2 cần trục để lắp các thanh liên kết phía trên lên chóp mũ thép ở trên đỉnh của các cột thép. Thanh liên kết là thép chữ U nằm úp xuống, chiều rộng của chữ U lớn hơn đường kính của chóp mũ thép nhiều và khoảng cách giữa 2 cột chống nhỏ hơn chiều dài của thanh liên kết, nên cần trục có thể dễ dàng đặt thanh liên kết lên trên 2 chóp mũ thép gần nhau. Xê dịch thanh thép một chút cho lỗ tròn ở đầu thanh thép ôm lấy chóp mũ thép. Ở đầu kia của thanh thép nếu lỗ tròn chưa vào được chóp mũ thép, ta điều chỉnh độ dài của các thanh thép có kẹp ở 2 đầu cho đến khi lỗ tròn đó vào được chóp mũ thép. Sà lan cần dắt theo phao lớn, phía trên phao có gắn thang để công nhân có thể trèo lên đó điều chỉnh độ dài của các thanh thép có kẹp ở 2 đầu. Chóp mũ thép cao tới 60 cm nhưng 6 thanh liên kết chỉ phủ vào chóp mũ trên 46,3 cm, còn thừa tới khoảng 13 cm để đề phòng trường hợp vì một lý do nào đó, thanh thép rơi ra khỏi cột chống bên kia thì đầu bị rơi đó sẽ ở vị trí rất cao, đảm bảo an toàn cho người lao động. Với chiều dày của 6 thanh liên kết như vậy, ta cần xếp đúng thứ tự để các thanh liên kết có thể nằm ngang. Đầu tiên nên xếp các thanh vừa liên kết, vừa làm nhiệm vụ giữ phao và các bộ phận khác trước, sau đó mới đến các thanh chỉ làm nhiệm vụ liên kết. Sau khi đặt các thanh liên kết phía trên, ta có thể rút các thanh thép có kẹp ở 2 đầu ra để sử dụng vào việc tiếp tục thả xuống biển các cột thép khác. Sau khi thả xong tất cả các cột thép và đặt hết các thanh liên kết phía trên, ta nên kiểm tra lại xem các cột thép đã đứng thẳng hết chưa và đỉnh của chúng có tương đối cao bằng nhau hay không? Nhìn vào các vạch sơn trên từng cột chống ta biết ngay cột chống đó đã ngập sâu trong nước biển bao nhiêu. Thả thước đo xuống đáy biển ở cách cột chống đó khoảng 1 m và so sánh với độ dài đoạn ngập trong nước biển của cột chống ta biết ngay đinh mũ ở đáy cột chống đó đã cắm sâu xuống đất ở đáy biển bao nhiêu. Cái nào chưa đạt yêu cầu cần phải làm lại. Sau đó sẽ hàn các thanh liên kết vào chóp các mũ thép và các mũ thép vào đỉnh cột chống cho vững chắc. Các mũ thép cần hàn vào đỉnh cột chống cho thật kín, không để nước mưa chui vào bên trong cột chống. Các bộ phận giữ phao cũng cần gắn vào thanh thép vừa liên kết, vừa làm nhiệm vụ giữ phao và các bộ phận khác để chuẩn bị đón nhận thanh thép có răng của phao. Sau đó ta mới tiến hành đưa các phao gắn thanh thép có răng vào vị trí và bơm thêm nước vào phao cho phao ngập đúng 1m, rồi bịt kín lỗ bơm nước lại. Ở phía trên cần đưa ngay thanh thép có răng vào bộ phận giữ phao. Hàn các thanh liên kết phía dưới vào các cột chống và cách các thanh liên kết phía trên 12 m. Các thanh bảo vệ cũng được hàn ngay vì khi đã đưa phao vào vị trí và hàn thanh liên kết phía dưới thì sà lan không thể qua lại được nữa. Khung thép có tới 8.232 cột chống, 39.393 thanh liên kết và 31.180 thanh bảo vệ, chân cột chống lại có đinh mũ dài 2 m cắm xuống đất ở đáy biển nên rất vững chắc. Do trọng lượng của khung thép và do sóng biển xô đẩy sẽ làm cho các cột chống dần dần ngập sâu xuống đất ở đáy biển cho đến khi ngập hết chiều dài 2 m của đinh mũ. Khi thả cột chống xuống biển, khoảng cách giữa các đinh mũ ở đáy cột chống rất khó cách đều nhau 11,7 m, chúng có thể thay đổi chút it, nhưng điều đó cũng không ảnh hưởng gì đến độ bền vững của khung thép.
      Nếu ta làm khung thép ở vùng biển sâu hơn, chỉ cần nối thêm ống thép cho các cột chống dài hơn và cách làm cũng tương tự như phần trên.
      Đối với các hải đảo, nhu cầu điện ít có thể dùng khung thép nhỏ và ít phao. Sau khi qua phần chuyển lực đã có chuyển động quay theo một chiều nhất định, có thể cho chạy máy phát điện một chiều. Điện được nạp vào ác quy rồi chuyển thành điện xoay chiều như điện gió vẫn làm.
      1.2. Phao thép:
      Phao hình trụ tròn đường kính 6 m, cao 2 m, dày 5 mm có thể tích vỏ phao là 0,4701 m3. Để phao được vững chắc, trong lòng phao ta cũng nên thêm 1 thanh thép vuông mỗi bề 6 cm làm cột chống ở giữa phao. Thể tích của thanh thép này là 0,0072 m3. Thanh thép có răng gắn ở giữa phao dài 32 m, dày 2 cm, rộng bình quân 10 cm có thể tích là 0,064 m3. Khối lượng thép của phao và thanh thép có răng là 0,5413 m3. Nhân với tỷ trọng thép là 7,8 ta có trọng lượng của phao và thanh thép có răng là 4,22 tấn. Tổng trọng lượng của 8.213 phao và thanh thép có răng là 4,22 x 8.213 = 34.676,7 tấn.
      Tổng trọng lượng của khung thép và phao cùng thanh thép có răng là: 47.952,47 + 34.676,7 = 82.629,17 tấn.
      Trong khung thép, các thanh thép liên kết và các thanh thép bảo vệ đều đã được tính 12 m. Chỉ còn các cột thép là có phế liệu vì do địa hình ở dưới đáy biển nên các cột thép không dài bằng nhau, cái thì bị cắt bớt đi, cái thì phải thêm một đoạn ống thép vào, vì thế số lượng thép có tăng lên một chút. Đúc các đinh mũ thép và các mũ thép để gắn vào đáy và đỉnh các cột thép sẽ có phế liệu. Làm các phao và thanh thép có răng cũng sẽ có phế liệu. Vì vậy tổng khối lượng thép phải dùng cho khung thép và phao cùng thanh thép có răng sẽ vào khoảng hơn 85.000 tấn. Làm bộ phận giữ phao, phần chuyển lực,… hết khoảng gần 15.000 tấn thép nữa. Tổng cộng nguyên liệu thép cho các phần này sẽ lên đến khoảng 100.000 tấn. Khi nhìn trên mạng tôi thấy phần lớn giá các loại thép hình đều gần với con số 20.000 đồng/kg, không biết giá thực tế hiện nay có tăng lên nhiều hay không? Không biết thép dùng trong các giàn khoan dầu khí nằm sâu trong nước biển có gì đặc biệt không và giá có cao hơn thép thường nhiều không? Tạm tính với giá 25.000 đồng/kg để mua 100.000 tấn thép sẽ có số tiền phải mua vào khoảng 2.500 tỷ đồng. Nếu phải dùng với thép lớn hơn, đặc biệt hơn và giá thép có cao hơn thì chi phí mua thép có lẽ không vượt quá 3.000 tỷ đồng.
      Ngoài ra còn rất nhiều khoản phải chi khác như:
      - Công sản xuất, lắp đặt khung thép, phao thép, bộ phận giữ phao, phần chuyển lực.
      - Chi phí mua các bơm nén khí, các ống dẫn khí nén, các bình khí nén, thùng khí vào, thùng khí ra, các tổ máy phát điện, đường dây dẫn điện,… và các chi phí xây dựng và lắp đặt các thiết bị đó.
      - Chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí thiết kế,…
      Nếu công suất lắp máy của nhà máy điện sóng biển bằng trung bình của 4 tháng 12, 1, 2 và 3 thì công suất lắp máy của nhà máy điện sóng biển tại vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau là 274 MW, vùng biển từ Bình Định đến Ninh Thuận là 232 MW, vùng biển từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi là 185 MW. Tính theo giá hiện nay thì để có công suất lắp máy 100 MW thủy điện sẽ phải đầu tư trên 3.000 tỷ đồng. Nếu tính suất đầu tư cho 100 MW là 3.000 tỷ đồng thì đầu tư cho công suất 274 MW sẽ hết 8.220 tỷ đồng, đầu tư cho công suất 232 MW sẽ hết 6.960 tỷ đồng, đầu tư cho công suất 185 MW sẽ hết 5.550 tỷ đồng.
      Như vậy để tổng mức đầu tư của nhà máy điện sóng biển không vượt tổng mức đầu tư của nhà máy thủy điện có cùng công suất thì tổng các khoản chi khác của nhà máy điện sóng biển tại vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau không vượt quá từ 5.220 đến 5.720 tỷ đồng, vùng biển từ Bình Định đến Ninh Thuận không vượt quá từ 3.960 đến 4.460 tỷ đồng, vùng biển từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi không vượt quá từ 2.550 đến 3.050 tỷ đồng. Số tiền này khá rộng rãi, nhiều nơi có thể không chi hết.
      Điện sóng biển cũng như thủy điện đều không phải dùng đến bất kỳ loại nhiên liệu nào và đều phải đầu tư ban đầu rất lớn. Phần ngoài nhà máy thủy điện là đập thủy điện, hồ thủy điện, chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí để người dân định canh định cư,… phần này gần như là vĩnh cửu, chủ yếu là phải chi ban đầu. Phần ngoài nhà máy điện sóng biển có rất nhiều thứ như khung thép, phao thép, bộ phận giữ phao, phần chuyển lực, bơm nén khí, đường ống dẫn khí nén, bình khí nén, thùng khí vào, thùng khí ra,… phải đầu tư ban đầu rất lớn, nhưng khi dùng đến một thời gian nào đó sẽ bị hư hỏng phải thay thế tuy rằng thời gian đó là khá lâu. Chiến hạm lớn nhất của Philipin là chiến hạm dùng từ Đại chiến Thế giới lần thứ hai, điều đó chứng tỏ nước biển tuy có độ ăn mòn rất cao nhưng cũng không dễ dàng gì làm hỏng đến mức không còn sử dụng được nữa các phần thường xuyên ngâm trong nước biển như phần dưới của khung thép, phao thép,… Khi tính giá thành của điện sóng biển ta cũng phải tính kỹ điều này. Qua đó có thể sơ bộ thấy suất đầu tư của điện sóng biển có thể rẻ hơn thủy điện, nhưng giá thành phát điện của điện sóng biển sẽ cao hơn thủy điện. Ở nơi thường xuyên có sóng biển rất lớn, cũng có thể giá thành phát điện của điện sóng biển thấp hơn thủy điện.
      2. Điện sóng biển có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?
      Cái lợi rất lớn của điện sóng biển đối với môi trường là không phải dùng đến bất cứ loại nhiên liệu nào, sẽ giảm được việc phát thải một khối lượng lớn khí CO2 ra ngoài không khí. Nhưng trong 1 km2 biển có tới trên 8.200 cột thép được cắm xuống đáy biển và trên 8.200 phao thép trên mặt nước, nó sẽ tác động tốt hay xấu đến môi trường biển?
      Tôi thấy với số lượng cột thép và phao dày đặc như vậy thì các loài cá lớn rất khó bơi lội và kiếm ăn. Nhưng các loài cá nhỏ và vừa thì vẫn dễ dàng hoạt động trong đó, nó sẽ trở thành nơi trú ẩn an toàn cho các loài cá nhỏ và vừa, số lượng cá sẽ tăng lên nhanh chóng. Các phao sẽ trở thành nơi các loài lưỡng cư nằm nghỉ trên cạn và phơi nắng. Các thanh liên kết sẽ là nơi các loài chim đến đậu để nghỉ ngơi và kiếm ăn. Tính đa dạng sinh học sẽ được tăng thêm.
      Khung thép ở khá xa đất liền, nên ít ảnh hưởng đến việc đi lại của ngư dân. Trái lại khu vực quanh khung thép có nhiều cá sẽ giúp cho ngư dân đánh bắt được nhiều cá hơn. Tuy nhiên quanh khung thép cần thắp điện sáng để ban đêm tàu biển và tàu đánh cá của ngư dân có thể nhìn thấy và tránh xa.
      Trên đây là ý kiến sơ bộ của tôi. Rất mong những ý kiến đóng góp của các bạn.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 05-02-2012 lúc 15:47.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    10. The Following 3 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    11. #7
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển đắt hay rẻ và có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?

      Ngoài các phao và khung đỡ ra còn phải có các bộ phận giữ phao, các phần chuyển lực, các bộ phận nén khí, các đường ống dẫn khí nén,... Phao càng nhỏ thì số lượng của chúng càng nhiều, phao càng lớn thì số lượng của chúng càng ít. Khi sóng rất lớn thì tổng công suất phát điện của các loại phao trên cùng một diện tích mặt biển gần bằng nhau. Lúc này loại nào có vốn đầu tư ít hơn sẽ cho giá thành phát điện rẻ hơn.
      Trước đây tôi cũng đã tính thử cho nhiều loại phao hình trụ tròn cao 2 m, đường kính từ 5 m đến 30 m với nhiều mức sóng khác nhau. Nay cũng xin giới thiệu để các bạn tham khảo:
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    12. The Following 2 Users Say Thank You to canlevinh For This Useful Post:


    13. #8
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Tại nơi thuận lợi nhất, giá thành của điện sóng biển sẽ như thế nào?

      Trong nhận xét cuối cùng của bài: “Điện sóng biển cho các vùng biển thuộc Vịnh Bắc Bộ và từ Cà Mau đến Kiên Giang”, tôi đã nói đến nơi nào có tỷ lệ giữa độ cao bình quân và độ cao lớn nhất của sóng biển cao hơn sẽ có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Ưu thế này có lẽ vẫn thuộc về vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau. Vì vậy ta nên đi sâu thêm về vùng biển có ưu thế nhất này.
      Đúng là như vậy vì trong 86 bản tin dự báo sóng biển của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương năm 2011 tôi đã thu thập được thì độ cao bình quân của sóng biển vùng này là lớn nhất trong các vùng biển gần bờ của nước ta. Trong 2 bản tin 15h30 của 2 ngày 8 và 9 tháng 1 năm 2011, sóng biển vùng này đều dự báo cao từ 4 m đến 6 m. Ở nước ta khi có bão lớn, vùng gần tâm bão gió giật trên cấp 12, độ cao sóng biển chỉ là trên 8 m. Như vậy khi có gió giật trên cấp 12, độ cao của sóng biển cũng không quá lớn so với sóng biển khi có gió đông bắc thổi mạnh. Vùng biển này lại ít có bão hơn các vùng biển phía bắc. Đặc biệt là vùng Cà Mau ở vĩ độ thấp, bão lại càng khó xảy ra hơn.
      Vì vậy ta cũng nên tính thử cho phao cao hơn xem sao. Thí dụ như:
      • Vùng biển từ Bình Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu: Vùng này rất ít khi có bão. Ta tạm tính thử cho phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 2,5 m.
      • Vùng biển từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Bạc Liêu: Vùng này lại càng ít bão hơn. Ta tạm tính thử cho phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 3 m.
      • Vùng biển phía đông của tỉnh Cà Mau: Vùng này bão càng khó xảy ra hơn nên ta tạm tính thử cho phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 3,5 m.
      Về độ cao của sóng biển, cần có số liệu của từng nơi. Nhưng tôi chỉ thu thập được số liệu của toàn vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau trong 86 bản tin sóng biển của năm 2011. Nên tôi tạm thời phải tính theo số này.
      Kết quả tính toán cụ thể như trong biểu sau:

      So với việc dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 2 m thì:
      • Khi dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 2,5 m cho công suất phát điện bình quân 240,98 MW tăng 21,14%.
      • Khi dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 3 m cho công suất phát điện bình quân 279,96 MW tăng 40,74%.
      • Khi dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 3,5 m cho công suất phát điện bình quân 315,87 MW tăng 58,79%.
      Nếu công suất lắp máy của nhà máy điện sóng biển bằng trung bình của 4 tháng 12, 1, 2 và 3 thì công suất lắp máy của nhà máy điện sóng biển tại các vùng biển này khi dùng phao cao 2,5 m là 333 MW, khi dùng phao cao 3 m là 389 MW, khi dùng phao cao 3,5 m là 441 MW.
      Trong bài: “Điện sóng biển đắt hay rẻ và có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?”đã đưa lên Diễn đàn ngày 05/02/2012, tôi đã tính toán cụ thể cho khung thép và phao thép khi dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m, cao 2 m, đồng thời có sơ bộ so sánh giá thành của điện sóng biển với thủy điện. Khi dùng phao cao 2,5 m, phần thép trong 8.213 phao sẽ nặng thêm 3.131,62 tấn, tăng 9,03%. Khi dùng phao cao 3 m, phần thép trong 8.213 phao sẽ nặng thêm 6.263,23 tấn, tăng 18,06%. Khi dùng phao cao 3,5 m, phần thép trong 8.213 phao sẽ nặng thêm 9.394,85 tấn, tăng 27,09%. Phần khung thép, các bộ phận giữ phao và các phần chuyển lực vẫn không có gì thay đổi, chỉ cần dùng loại thép to hơn cho chắc chắn hơn. Các bơm nén khí, các đường ống dẫn khí nén, các bình chứa khí nén lớn, các tổ phát điện,... cũng cần to hơn do khối lượng khí nén tăng lên. Lý do tại sao trong biểu tính, tôi chỉ tính cho 8.200 phao, xin xem trong bài: “Điện sóng biển cho các vùng biển thuộc Vịnh Bắc Bộ và từ Cà Mau đến Kiên Giang”.
      Suất đầu tư hiện nay cho xây dựng 100 MW công suất lắp đặt của nhà máy thủy điện có lẽ là phải trên 3.000 tỷ đồng. Chỉ cần tính với mức 3.000 tỷ đồng thì để có công suất 333 MW cần 9.990 tỷ đồng, để có công suất 389 MW cần 11.670 tỷ đồng, để có công suất 441 MW cần 13.230 tỷ đồng. Đó là những số tiền rất lớn. Câu hỏi đặt ra là: Nếu ta xây dựng nhà máy phát điện chạy bằng năng lượng sóng biển tại vùng này với những phao hình trụ tròn đường kính 6 m và có chiều cao là 2,5 m, 3 m hoặc 3,5 m ứng với công suất lắp đặt là 333 MW, 389 MW hoặc 441 MW thì vốn đầu tư có thấp hơn nhiều so với thủy điện hay không?
      Thủy điện phải đầu tư rất lớn, nhưng giá thành phát điện của thủy điện lại rẻ nhất trong các nguồn điện ở nước ta do thủy điện không phải dùng bất cứ loại nhiên liệu nào. Điện sóng biển cũng không phải dùng đến bất cứ loại nhiên liệu nào. Vậy tại nơi thuận lợi nhất là vùng biển phía đông tỉnh Cà Mau, ta có thể đặt câu hỏi: Nếu dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m và cao 3,5 m tại vùng biển này, giá thành của điện sóng biển sẽ như thế nào? Có thể rẻ hơn giá thành của thủy điện hay không?
      Việc xác định độ lớn của các cột chống và độ lớn của các thanh thép trong khung thép khi dùng loại phao cao như vậy để khung có thể vẫn đứng vững vàng khi bão đi qua với gió giật trên cấp 12, sóng biển cao trên 8 m, các chuyên gia về công trình biển và các chuyên gia cơ khí có thể xác định một cách dễ dàng. Nếu lực nâng lên, hạ xuống của phao quá lớn, các cột chống lớn và các thanh thép lớn trong khung thép không chịu đựng nổi thì phao hình trụ tròn đường kính 6 m đó chỉ nên cao nhất là bao nhiêu? Họ cũng có thể dễ dàng trả lời. Kính mong các nhà đầu tư quan tâm đến vấn đề này để nước ta sớm có nguồn điện mới vô cùng to lớn và khá rẻ.
      Rất mong mọi người quan tâm đến vấn đề này và chỉ ra những sai sót để tôi sửa lại cho tốt hơn. Xin chân thành cám ơn.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    14. Những thành viên đã cảm ơn canlevinh vì bài viết hữu ích:


    15. #9
      Tham gia
      29-05-2010
      Bài viết
      10
      Cảm ơn
      1
      Được cảm ơn 4 lần, trong 2 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển đắt hay rẻ và có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?

      Xin hỏi bác Cẩn 1 câu : Bác là người tay ngang hay là có chuyên nghành gì về vấn đề bác viết không?Nếu chỉ là người tay ngang thì miễn bàn,nếu là dân chuyên thì tôi xin chỉ ra những điểm thiếu tính thực tế

    16. Những thành viên đã cảm ơn Thai Son vì bài viết hữu ích:


    17. #10
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      220
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Ðề: Điện sóng biển đắt hay rẻ và có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?

      Rất cám ơn bạn Thai Son. Tôi chỉ là người tay ngang thôi. Thấy đây là việc rất có ích cho dân, cho nước nên tôi viết ra những suy nghĩ của tôi để xin mọi người góp ý. Tất nhiên là có thể có nhiều thiếu sót. Rất mong bạn chỉ giúp những điểm thiếu tính thực tế để tôi sửa lại cho tốt hơn. Xin chân thành cám ơn.
      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 03-04-2012 lúc 15:45.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    18. Những thành viên đã cảm ơn canlevinh vì bài viết hữu ích:


    Trang 1 của 2 12 CuốiCuối

    Trả lời với tài khoản Facebook

    Văn Võ Trạng Nguyên
    Hắc Hiệp Đại Chiến Thánh Bài 2
    Đặc Cảnh Diệt Ma
    Khử Ma Đạo Trưởng
    Cương Thi Diệt Tà
    Sự Hình Thành Của Đế Chế Mông Cổ
    NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐÁNG NHỚ CỦA GIẢI GOLF PHÚ MỸ HƯNG 2016