• Webdien.com - Cầu nối dân điện


    1. [HOT] - Webdien đang tuyển các vị trí quản lý cao cấp

      ntech.com.vn

  • Kết quả 1 đến 1 của 1
    1. #1
      Tham gia
      28-07-2011
      Địa chỉ
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Bài viết
      222
      Cảm ơn
      141
      Được cảm ơn 128 lần, trong 78 bài

      Mặc định Điện sóng biển cho các vùng biển thuộc Vịnh Bắc Bộ và từ Cà Mau đến Kiên Giang

      Nước ta có bờ biển dài hơn 3.260 km, diện tích lãnh hải rộng hàng triệu km2. Nhưng trong bài: “Nguồn điện vô cùng to lớn”, ưu thế lại thuộc về các vùng biển từ Quảng Trị đến Cà Mau. Vì vậy đối với các vùng biển thuộc Vịnh Bắc Bộ và từ Cà Mau đến Kiên Giang có sóng biển nhỏ hơn ta cũng cần suy nghĩ để có cách làm thích hợp.
      Đối với các vùng có sóng biển nhỏ, dùng phao đường kính nhỏ sẽ có lợi hơn vì tỷ lệ giữa khoảng nâng lên, hạ xuống của phao và độ cao của sóng sẽ cao hơn. Khung thép được mô tả trong bài: “Điện sóng biển đắt hay rẻ và có ảnh hưởng gì đến môi trường biển hay không?” có 8.213 thanh thép vừa làm nhiệm vụ liên kết các cột chống, vừa để gắn bộ phận giữ phao và các bộ phận khác như phần chuyển lực, bơm nén khí,... , nhưng lại có tới 15.590 thanh thép chỉ làm nhiệm vụ liên kết. Như vậy riêng phần liên kết phía trên đã có tới 23.803 thanh thép liên kết các cột chống với nhau. Trên mỗi thanh liên kết ta có thể gắn bộ phận giữ phao nhỏ hơn để tận dụng toàn bộ các thanh thép đó. Khi gắn các bộ phận giữ phao vào chính giữa các thanh liên kết trên, ta sẽ có khoảng cách giữa các phao đường kính 4 m là gần 2 m và chúng cách các cột chống gần 4 m. Vì vậy tôi đã tính thử cho 23.803 phao hình trụ tròn đường kính 4 m và cao 2m. Kết quả là cũng trên khoảng 1 km2 mặt biển đó, công suất phát điện đã tăng thêm. Cụ thể là vùng biển bắc Vịnh Bắc Bộ: 97,67 MW tăng 23,13%, vùng biển nam Vịnh Bắc Bộ: 118,33 MW tăng 21,42%, vùng biển từ Cà Mau đến Kiên Giang 54,13 MW tăng 31,54%. Nhưng cách làm này có các nhược điểm sau:
      • Không có chỗ để hàn 15.590 thanh liên kết phía dưới nên khung thép sẽ yếu đi nhiều.
      • Số lượng các bộ phận giữ phao, các phần chuyển lực, các bơm nén khí,… tăng lên gấp gần 3 lần.
      Tôi thấy độ an toàn không cao và hiệu quả kinh tế không lớn, nên đã bỏ cách này và chuyển sang cách tăng chiều cao của phao hình trụ tròn.
      Nếu ta vẫn dùng phao hình trụ tròn đường kính 6 m, nhưng tăng chiều cao lên gấp đôi chẳng hạn thì khi đã bơm thêm nước ngọt vào phao cho phao nửa nổi nửa chìm, phao sẽ nặng gấp đôi. Khi đó lực nâng lên, hạ xuống của phao cũng tăng lên gấp đôi nhưng khả năng cung cấp khí nén để chạy máy phát điện của phao không tăng lên được gấp đôi vì hệ số hữu ích ứng với độ cao của sóng cũng sẽ bị giảm đi. Đối với các vùng sóng biển không lớn lắm và phao không lớn lắm, ta có thể tăng chiều cao của phao để tăng khả năng cung cấp khí nén chạy máy phát điện. Vì vậy ta cần xem xét khả năng sóng gió lớn nhất của từng vùng biển cụ thể:
      • Vùng biển bắc Vịnh Bắc Bộ: Bão muốn đến đây phải qua đảo Hải Nam hoặc bán đảo Lôi Châu, nên đã bị suy yếu nhiều. Vịnh Bắc Bộ chỉ rộng khoảng vài trăm km nên sóng không thể mạnh như ở phía ngoài đảo Hải Nam. Vì vậy tôi tạm tăng chiều cao của phao lên gấp rưỡi thành 3 m.
      • Vùng biển nam Vịnh Bắc Bộ: Bão muốn đến vùng biển từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh cũng phải qua đảo Hải Nam. Tâm bão có thể đến vùng biển Quảng Bình mà không cần qua đảo Hải Nam, nhưng do gió gần tâm bão luôn luôn thổi ngược chiều kim đồng hồ nên phần lớn sức mạnh của bão cũng đã bị đảo Hải Nam làm cho suy yếu đi. Vì vậy tôi tạm tăng chiều cao của phao lên gấp 1,25 lần thành 2,5 m.
      • Vùng biển từ Cà Mau đến Kiên Giang: Vùng Nam Bộ ít bão so với các vùng khác. Sau khi đổ bộ vào Nam Bộ, bão sẽ nhanh chóng chuyển thành áp thấp nhiệt đới. Khi ra đến Vịnh Thái Lan, áp thấp nhiệt đới đã bị suy yếu nhiều. Vì vậy tôi tạm tăng chiều cao của phao lên gấp 3 lần thành 6 m.
      Khi chiều cao của phao thay đổi thì hệ số hữu ích đối với từng độ cao của sóng cũng khác đi. Muốn có số liệu tính toán phải tạm dự kiến các hệ số hữu ích đối với từng chiều cao của phao và với từng độ cao của sóng. Sau này qua thực nghiệm sẽ có thể rút ra hệ số hữu ích tốt hơn.
      Trong khung thép có 8.213 phao, nhưng tôi chỉ tính 8.200 phao vì 2 lý do:
      • Trong biểu tính thử cho phao đường kính 6 m đã tính 8.200 phao, nên trong biểu này cũng phải tính 8.200 phao để so sánh.
      • Ban đêm cần thắp đèn quanh phao để các tàu biển, tàu đánh cá biết mà tránh xa nên cần nguồn điện tại chỗ để thắp sáng. 13 phao này không dùng bơm nén khí mà dùng máy phát điện 1 chiều để sản xuất điện ngay tại chỗ. Điện sản xuất được nạp vào ác quy rồi chuyển thành điện xoay chiều như người ta đã làm với điện gió để thắp sáng đèn hoặc làm các việc khác ngay tại chỗ.
      Tính toán cụ thể cho các vùng biển này sẽ cho kết quả như trong biểu tính sau:



      Từ các số liệu trên ta có thể rút ra các nhận xét sau:
      • Số liệu về công suất phát điện bình quân của từng vùng biển trong cột cuối cùng của biểu này đều lớn hơn số liệu trong biểu tính thử cho phao hình trụ tròn đường kính 6 m đã đưa lên Diễn đàn. Cụ thể là:
        • Vùng biển bắc Vịnh Bắc Bộ: Tuy chiều cao của phao tăng gấp 1,5 lần, nhưng công suất bình quân chỉ là: 109,69 MW, tăng 1,38 lần.
        • Vùng biển nam Vịnh Bắc Bộ: Tuy chiều cao của phao tăng gấp 1,25 lần, nhưng công suất bình quân chỉ là: 117,1 MW, tăng 1,2 lần.
        • Vùng biển từ Cà Mau đến Kiên Giang: Tuy chiều cao của phao tăng gấp 3 lần, nhưng công suất bình quân chỉ là: 85,84 MW, tăng 2,09 lần.
      • Nếu cũng tính công suất lắp máy của nhà máy điện sóng biển bằng trung bình của 4 tháng 12, 1, 2 và 3 thì công suất lắp máy của từng vùng biển như sau: Vùng biển bắc Vịnh Bắc Bộ:143 MW, vùng biển nam Vịnh Bắc Bộ: 148 MW, vùng biển từ Cà Mau đến Kiên Giang: 121 MW.
      • Qua cách tính này ta thấy để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất, chiều cao của phao trong các vùng biển ở nước ta có thể khác nhau, kể cả các vùng biển từ Quảng Trị đến Cà Mau. Nhưng cần phải dự đoán được độ cao của sóng biển lớn nhất có thể xảy ra tại địa điểm sẽ đặt khung thép để tính toán chiều cao của phao, độ lớn của các cột chống và các thanh thép cho an toàn. Ta nên tính tỷ lệ giữa độ cao bình quân và độ cao lớn nhất của sóng. Nơi nào có tỷ lệ cao hơn sẽ có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Ưu thế này có lẽ vẫn thuộc về vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau. Việc thu thập các bản tin dự báo sóng biển của từng vùng biển qua nhiều năm rất cần thiết cho việc dự đoán độ cao lớn nhất của sóng và tính toán độ cao bình quân của sóng.
      Không biết những suy nghĩ và những tính toán của tôi có gì sai sót không? Rất mong các bạn xem xét và góp ý để tôi sửa lại cho tốt hơn.

      --------------------------------------------------------------------------------
      Xem bài viết cùng chuyên mục:

      Sửa lần cuối bởi canlevinh; 02-03-2012 lúc 15:52.
      Lê Vĩnh Cẩn

      Địa chỉ liên hệ:
      Phòng 204 nhà B4, 189 Thanh Nhàn, Hà Nội
      Điện thoại: (04)39716038
      Thường hay ở nhà con, điện thoại: (04)35527218

    Trả lời với tài khoản Facebook

    Các Chủ đề tương tự

    1. Cần bán - Bán cable lập trình plc Mitsubishi của Sa Giang
      Bởi tuane06 trong diễn đàn Biến tần, PLC, LOGO, thiết bị điều khiển
      Trả lời: 17
      Bài cuối: 22-04-2013, 15:50
    2. [Tiền Giang] Tuyển Technician I - Electrical
      Bởi wd.support trong diễn đàn VIỆC TÌM NGƯỜI
      Trả lời: 1
      Bài cuối: 01-12-2012, 09:25
    3. Truyện Hiệp khách giang hồ
      Bởi tinhmaitheotagmc2308 trong diễn đàn THƯ GIÃN
      Trả lời: 18
      Bài cuối: 27-04-2011, 13:22
    Văn Võ Trạng Nguyên
    Hắc Hiệp Đại Chiến Thánh Bài 2
    Đặc Cảnh Diệt Ma
    Khử Ma Đạo Trưởng
    Cương Thi Diệt Tà
    Sự Hình Thành Của Đế Chế Mông Cổ
    NHỮNG KHOẢNH KHẮC ĐÁNG NHỚ CỦA GIẢI GOLF PHÚ MỸ HƯNG 2016